31 thg 3, 2009

... ThiênSứ

Nhà thơ Anh Ngọc gọi Trịnh Công Sơn là... "Thiên Sứ"
01/04/2009 09:11 (GMT + 7)
(TuanVietNam) - "Nhiều người thường cho rằng ba nhạc sĩ hàng đầu của nền tân nhạc Việt Nam là Văn Cao, Phạm Duy và Trịnh Công Sơn, tôi cũng thấy thế. Nhưng nếu phải bỏ phiếu cho một người thôi, thì tôi chọn Trịnh Công Sơn"


Nhà thơ Anh Ngọc trò chuyện nhân dịp kỷ niệm 8 năm ngày mất của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn.

Làm sao cắt nghĩa được tình yêu nhạc Trịnh?

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và người bạn nhạc


- Thưa nhà thơ Anh Ngọc, theo ông điều gì tạo nên sức hấp dẫn của Nhạc Trịnh?


- Nhà thơ Anh Ngọc: Ai trả lời được thấu đáo câu hỏi “tại sao bạn thích nhạc Trịnh” là dường như đã có thể yên tâm về tình yêu của mình dành cho Nhạc Trịnh .

Đó là sự yên tâm với chính mình vì Nhạc Trịnh có sức hấp dẫn to lớn đối với hàng triệu người, nhưng mỗi người tiếp thu theo một cách khác nhau và thích theo một kiểu khác nhau, thậm chí mỗi thời điểm ta lại thích những bài khác nhau.

Nhà thơ Anh Ngọc

Cho đến hôm nay trong nền Tân nhạc Việt Nam, chưa có nhạc sỹ nào được phổ cập trong công chúng như Trịnh Công Sơn.

Ngay với cả những người hiểu biết cũng không thể bằng mấy lời mà nói hết giá trị của Nhạc Trịnh. Ca từ của Trịnh Công Sơn không phải dễ hiểu, thế mà từ những người ít học đến những bậc trí thức uyên bác đều có thể yêu thích.

Nói thật khái quát thì Nhạc Trịnh không gì khác hơn là cách người nhạc sĩ ấy giúp chúng ta thấu hiểu, khám phá chính mình, trò chuyện với chính mình, an ủi chính mình.

Chỉ có như thế con người mới bình tâm để sống với cuộc đời vốn đầy rẫy những mặt trái luôn lăm le kéo bật mỗi cá thể ra khỏi quỹ đạo của con người đúng nghĩa, ra khỏi những niềm vui sống bình dị.

Một điều đơn giản như vậy, nhưng không dễ nhận ra và lý giải. Nên với nhiều người, đôi lúc trong đó có cả tôi, cách lý giải dễ dàng nhất là đổ thừa cho những lý do cảm tính như cách nói của Xuân Diệu ngày xưa: Làm sao cắt nghĩa được tình yêu…

Yêu ở nhạc và yêu ở người

Người an ủi những linh hồn đau khổ
Bằng nỗi buồn tên gọi Trịnh Công Sơn…

- Về mặt cá nhân mình, ông thích Trịnh Công Sơn ở điểm nào?

- Tôi yêu mến và kính trọng Trịnh Công Sơn cả như một người nghệ sĩ và như một con người.

Tôi sẵn lòng gọi ông là Thiên Sứ, với cách hiểu là một con người tự nguyện hay được phái đến để làm bạn với con người, chia sẻ những buồn vui, được mất của con người, nhất là để nâng giấc con người trong những phút giây cô đơn, đớn đau hay tuyệt vọng…

Anh thuộc phía tủi hờn, anh thuộc phía mong manh
Anh thuộc phía những con người bé nhỏ
Người an ủi những linh hồn đau khổ
Bằng nỗi buồn tên gọi Trịnh Công Sơn…

Tôi đã viết như vậy. Cái cách chia sẻ ấy của Trịnh Công Sơn không phải lúc nào cũng được mọi người thông cảm, nhưng sau rất nhiều tìm kiếm và chiêm nghiệm, dường như cuộc sống đã đứng về phía anh.

Việc càng ngày càng có nhiều người tìm đến với Nhạc Trịnh, nhất là các bạn trẻ, dĩ nhiên là phải trừ những kẻ xu thời, đã chứng tỏ sức mạnh truyền cảm kỳ lạ của Nhạc Trịnh, một dòng âm nhạc nhân bản và thánh thiện như một thứ tôn giáo sinh ra bởi con người và dành trọn cho con người.

Nhạc sĩ Văn Cao viết về Trịnh Công Sơn:

"Mãi hơn một năm sau ngày 30 tháng 4, chúng tôi mới thật sự mặt nhìn mặt tay cầm tay lần đầu, nhưng tôi có cảm giác như chúng tôi đã là bạn của nhau tự bao giờ, mặc dù giữa tôi và Sơn còn cả một thế hệ đệm (...)

Nhạc sĩ Văn Cao và Trịnh Công Sơn












Trong âm nhạc của Sơn, ta không thấy dấu vết của âm nhạc cổ điển theo cấu trúc bác học phương Tây. Sơn viết hồn nhiên như thể cảm xúc nhạc thơ tự nó trào ra. Nói như nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát, người bạn già của tôi, "Trịnh Công Sơn viết dễ như lấy chữ từ trong túi ra".

Cái quyến rũ của nhạc Trịnh Công Sơn có lẽ chính là chỗ đó, ở chỗ không định tạo ra một trường phái nào, một triết học nào, mà vẫn thấm vào lòng người như suối tưới.

Với những lời, ý đẹp và độc đáo đến bất ngờ hôn phối cùng một kết cấu đặc biệt như một hình thức của dân ca hầu như không thay đổi, Trịnh Công Sơn đã chinh phục hàng triệu con tim, không chỉ ở trong nước, mà cả bên ngoài biên giới nữa. Và nếu không lầm thì dấu ấn của Sơn đã ít nhiều in trên tác phẩm của một số nhạc sĩ thời kỳ sau 1975..."

Thực lòng tôi không muốn thần thánh hóa một điều gì, nhưng cảm giác ấy của những người đam mê Nhạc Trịnh là hoàn toàn có thật.

- Đó là về nội dung, còn về hình thức thể hiện thưa ông?

- Khi một tác phẩm nghệ thuật đã chinh phục chúng ta đến thế, thì tách bạch giá trị nội dung và nghệ thuật là điều không thể.

Chỉ cần nói thêm một điều không thể không nói, ấy là: Ngoài giá trị của ca từ trong Nhạc Trịnh vốn đã được “chúng khẩu đồng từ” tôn vinh, phần âm nhạc của Trịnh Công Sơn, cũng đủ sức chở ca từ tuyệt vời của tác giả đến với triệu triệu lòng người.

Cũng như con chim phải bay bằng hai cánh, ca khúc đích thực có giá trị phải bay bằng cả âm nhạc và ca từ. Đơn giản thế thôi. Câu chuyện này quá dài cho một bài báo, bạn phải dành cho nó một dịp khác.

"Người ta yêu tôi là yêu dòng sông chảy xiết ở trong tôi"

- Nhưng có rất nhiều người cho rằng nhạc Trịnh Công Sơn đơn điệu, nhất là về giai điệu…

- Một người viết nhiều tác phẩm thì sự gẫn gũi nhau phần nào là có thật và không thể tránh khỏi. Thậm chí nhìn từ một phương diện tích cực, mỗi tác giả thực tài bao giờ cũng có một bút pháp nhất quán, đến nỗi, bịt tên tác giả đi người ta vẫn nhận ra. Tính nhất quán đó làm nên sức mạnh của cả một dòng sông tác phẩm chảy xiết.

Trịnh Công Sơn đã từng nói: Người ta yêu tôi là yêu dòng sông chảy xiết ở trong tôi. Đúng như thế. Chỉ những ai không hiểu hoặc cố tình không hiểu mới bắt bẻ một cách vô lối.

Người ta gọi những người hay bắt bẻ một cách vô lối ấy là “biết một mà không biết hai” hay là những kẻ “ngộ chữ” kiểu câu chuyện tiếu lâm “tràng cảnh tắc đại thanh”, dốt đặc còn hơn hay chữ lỏng.

- Ông nghĩ thế nào khi thử so sánh Trịnh Công Sơn và Văn Cao?

- Nhiều người thường cho rằng ba nhạc sĩ hàng đầu của nền tân nhạc Việt Nam là Văn Cao, Phạm Duy và Trịnh Công Sơn, tôi cũng thấy thế.

Nhưng nếu phải bỏ phiếu cho một người thôi, thì tôi chọn Trịnh Công Sơn. Đây là nhận định của cá nhân tôi và tôi tin có nhiều người sẽ cùng quan điểm với mình...

Nhạc sĩ Phạm Duy:

"Trịnh Công Sơn tài đấy. Từ năm 1975 đến năm 2000 ở trong nước không ai hơn được. Sơn nói được phần nào nỗi đau của dân chúng, thân phận con người, nhưng Sơn không đa dạng như tôi.

Anh ấy cũng có cái thiệt thòi là tuổi trẻ được học không nhiều. Còn tôi ảnh hưởng từ truyền thống gia đình, mẹ và cha. Cha tôi là nhà văn Phạm Duy Tốn, anh tôi cũng là nhà văn. Cho đến giờ tôi vẫn không ngừng học hỏi".

(Theo
Tiền Phong, 29/3)

- Ông có thể nói chút ít về nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn...?


- Đây là một vấn đề đến nay vẫn còn là nhạy cảm. Tranh luận thì tốt thôi và cần thiết nữa, nhưng vẫn còn những cách lên tiếng theo kiểu quyền uy, không có tính bình đẳng và dân chủ, nên nhiều người ngại bàn đến chủ đề này.

Tôi chỉ có thể nói rằng tôi vô cùng xúc động vì nhạc phản chiến của anh Sơn, hễ nghe là chỉ muốn khóc.

Macxim Goocky nói: Đốt cháy trái tim lên thành trí tuệ. Ở đây, trái tim yêu người của anh Sơn quá lớn, nó vượt qua mọi thứ thành kiến và định kiến, để kêu thét lên nỗi đau của con người Việt Nam trong chiến tranh.

Nhà thơ Dương Tường có một câu nói hay: Tôi đứng về phe nước mắt. Tôi cũng đứng về phía ấy. Đơn giản thế thôi.

  • Phúc Sơn (thực hiện)

10NữDiễnViênĐiệnẢnhXuấtSắcNhất

Thứ Hai, 30/03/2009, 17:27 (GMT+7)

10 nữ diễn viên điện ảnh xuất sắc nhất mọi thời đại

TTO - Tạp chí trên mạng L’internaute (Pháp) vừa tổng kết danh sách 40 nữ diễn viên điện ảnh xuất sắc nhất mọi thời đại theo bầu chọn của độc giả, trong đó nữ diễn viên người Áo Romy Schneider đứng đầu bảng xếp hạng.

Nữ diễn viên Romy Schneider

Nữ diễn viên Romy Schneider (1938-1982) nổi tiếng với vẻ duyên dáng, sắc đẹp tự nhiên và diễn xuất đầy truyền cảm. Một số phim tiêu biểu của Schneider: Bloodline (1979), The Assassination of Trotsky (1972; Triple Cross (1966); What's New, Pussycat (1965)...

Vị trí thứ 2 thuộc về nữ diễn viên người Pháp Simone Signoret (1921-1985) (đoạt giải Oscar 1960 với vai Alice Aisgill trong phim Room at the Top). Dù diễn xuất có chiều sâu và đoạt ba giải César, Annie Girardot (Pháp) gây ít nhiều ngạc nhiên khi chiếm lĩnh vị thứ ba. Vị trí thứ 4 cũng là một người đẹp Pháp có đôi mắt mê hồn Michele Morgan. Nữ diễn viên tuyệt đẹp người Mỹ Ava Lavinia Gardner (1922-1990) đứng vị thứ 5.

Meryl Streep nhận giải Oscar năm 1980 - Ảnh: IMDB

Đứng thứ 6 trong bảng xếp hạng, Isabelle Adjani là nữ diễn viên Pháp duy nhất đoạt 4 giải César và là một trong những nữ diễn viên được công chúng Pháp yêu thích nhất. Nữ diễn viên Mỹ Meryl Streep - nổi tiếng với 15 lần được đề cử giải Oscar, thành công trong phim bi (The Bridges of Madison County - Những cây cầu ở quận Madison) lẫn phim hài (The Devil Wears Prada - Quỷ cái vận đồ Prada) đứng ở vị trí thứ 7. Nữ diễn viên người Anh Audrey Hepburn (1929-1993) chiếm vị thứ 8.

Diễn viên Julia Roberts

Xếp vị trí thứ 9 là Julia Roberts - nữ diễn viên đương đại được công chúng biết đến nhiều nhất hiện nay theo điều tra của L’internaute. Vị thứ 10 thuộc về nữ diễn viên Mỹ Katharine Houghton Hepburn (1907-2003) - người chưa một lần chiến thắng giải Quả cầu vàng nhưng đang giữ kỷ lục là nữ diễn viên nhận nhiều giải Oscar nhất (4 giải).

CÔNG KHANH (Theo L’internaute)

TrịnhCôngSơnVàHạtCátQuyNhơn

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=308904&ChannelID=10

Về một thành phố tôi đã xa

Gần ba mươi năm tôi chưa trở lại với Quy Nhơn. Cái ý niệm về thời gian bao giờ cũng gây cho tôi một nỗi buồn. Dạo ở đó tôi còn trẻ và tôi yêu biển vô cùng. Biển nhớ là bài hát tôi viết cho những đường phố Quy Nhơn. Những đường phố và biển và một người bạn gái hằng đêm cùng tôi ngồi nhìn biển. Điều ấy bây giờ đã trở thành quá khứ nhưng trong tôi Quy Nhơn vẫn còn rõ như một tấm gương. Một tấm gương mà tôi có thể nhìn thấy tôi trong ấy.

Tôi soi vào quá khứ và tôi nhìn thấy tôi ở biển trong những ngày biển động và biển lặng. Tôi nhìn thấy tôi lang thang trên đường phố Quy Nhơn một mình. Một mình đánh billard ở đường Võ Tánh. Một mình nằm ngủ trong căn nhà trọ vào giờ giấc mà mọi người sum họp vui vầy với nhau.

Biển Quy Nhơn - Ảnh: Tư liệu

Dạo ấy còn trẻ mà sao cô đơn quá sức. Thỉnh thoảng người bạn gái đến gọi cửa trong giấc ngủ lưng chừng và bảo tôi đêm nay trăng đẹp quá hãy ra ngoài biển ngồi chơi. Biển Quy Nhơn đẹp nhưng hơi bẩn. Người bạn ấy bây giờ chồng con bề bộn hay nhàn nhã, không hiểu khuôn mặt ấy giờ đây như thế nào. Đừng nhắc lại quá khứ vì mỗi lần nhắc lại thì lòng trống trải buồn thiu.

Có những căn nhà trống gió thổi lùa qua mọi ngõ ngách. Tâm hồn con người cũng có lúc gió lạnh cũng lùa quanh. Đừng nhắc lại dĩ vãng. Nó đẹp nhưng không ích lợi gì cả. Chúng ta sống cho mỗi ngày hôm nay. Hôm nay cũng là quá khứ và chúng ta cố giành giựt với thời gian để biến ngày hôm nay thành một hiện tại vô tận.

Tháp Bánh Ít (Quy Nhơn, Bình Định) - Ảnh tư liệu

Quy Nhơn có những tháp Chàm đứng một mình lặng lẽ nghìn năm “mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ”. Cái giấc mộng dài nó buộc con người không được quên và phải nhớ về những dấu tích đã in thành vết không tàn phai trên tâm hồn mỗi con người. Tôi luôn luôn là người đãng trí. Tôi đã quên nhưng vẫn có kẻ tỉnh táo không bao giờ quên bất cứ một điều gì cứ mãi quanh quẩn cuộc đời tôi để nói khẽ vào tai tôi điều tôi không muốn nhớ nữa.

Quy Nhơn không hiểu còn thơ mộng như thời tôi những năm hai mươi tuổi? Cái tuổi ấy nhìn gì mà chẳng đẹp. Tôi vốn yêu người và yêu thiên nhiên. Có thể rất gần đây tôi sẽ chuẩn bị một chuyến trở về Quy Nhơn để tần ngần ngồi nhìn một bờ biển của những ngày xưa, lúc một hạt cát cũng đủ làm tôi cảm động.

TRỊNH CÔNG SƠN (1988)

30 thg 3, 2009

LượcSửThờiGian









.
LƯỢC SỬ THỜI GIAN
(A Brief History of Time)
Tác Giả:-Steven Hawking - Dịch Giả:-Thích Viên Lý
Viện Triết Lý Việt Nam và Triết Học Thế Giới, USA
MỤC LỤC
Lời Giới Thiệu của Carl Sagan
Cảm Tạ của Stephen Hawking
Chương 1 Bức Tranh Vũ Trụ của Chúng Ta
Chương 2 Không Gian và Thời Gian
Chương 3 Vũ Trụ Bành Trướng
Chương 4 Nguyên Tắc Bất Định
Chương 5 Hạt Cơ Bản và Lực Thiên Nhiên
Chương 6 Hố Đen
Chương 7 Hố Đen Không Đen Lắm
Chương 8 Nguồn Gốc và Vận Mệnh của Vũ Trụ
Chương 9 Mũi Tên Thời Gian
Chương 10 Thống Nhất Vật Lý Học
Chương 11 Kết Luận
Thuật Ngữ

ĐạoCủaVậtLý

Thư Mục Phật Giáo và Khoa Học
ĐẠO CỦA VẬT LÝ
Một Khám Phá Về Sự Tương Đồng Giữa Vật Lý Hiện Đại và Đạo Học Phương Đông
Nguyên Tác: The Tao Of Physics của Fritjof Capra - Biên Dịch: Nguyễn Tường Bách
Nhà Xuất Bản Trẻ TP. HCM Xuất Bản 2001
MỤC LỤC
Lời Người Dịch
Lời Nói Đầu
Lời Nói Đầu Bản In Lần Thứ Hai
I CON ĐƯỜNG CỦA VẬT LÝ HỌC
01 Vật Lý Hiện Đại - Một Tâm Đạo
02 Biết và Thấy
03 Bên Kia Ngôn Ngữ
04 Nền Vật Lý Mới
II CON ĐƯỜNG ĐẠO HỌC PHƯƠNG ĐÔNG
05 Ấn Độ Giáo
06 Phật Giáo
07 Tư Tưởng Trung Quốc
08 Lão Giáo
09 Thiền Tông
III CÁC TƯƠNG ĐỒNG
10 Tính Nhất Thể Của Vạn Sự
11 Vượt Trên Thế Giới Nhị Nguyên
12 Không Gian Thời Gian
13 Vũ Trụ Động
14 Không Và Sắc
15 Điệu Múa Vũ Trụ
16 Cấu Trúc Đối Xứng Quark - Một Công Án Mới
17 Các Mẫu Hình Biến Dịch
18 Sự Dung Thông
PHẦN CUỐI
Lời Cuối
Điểm Lại Nền Vật Lý Mới
Tương Lai của Nền Vật Lý Mới
Tài Liệu Tham Khảo

MùiHươngTrầm









.
MÙI HƯƠNG TRẦM
Nguyễn Tường Bách
(Ký Sự Du Hành Tại Ấn Độ, Trung Quốc, Tây Tạng)
Nhà Xuất Bản Trẻ TP. Hồ Chí Minh 2003

PHẦN THỨ NHẤT : DƯỚI CHÂN HY MÃ
Những bước đầu tiên
Tháng ngày ấp ủ
Con sông thiêng
Giấc mơ cẩm thạch
Ðền Birla

PHẦN THỨ HAI: ẤN ÐỘ SUỐI NGUỒN THIÊNG LIÊNG
Bihar, vùng đất thánh
Ði dọc sông Hằng
Hoa Thị Thành
Na-lan-đà, đại học Phật giáo đầu tiên
"Vui đẹp thay thành Vương Xá"
Trên đỉnh Linh Thứu
Từ Linh Sơn, nhớ về Yên Tử

Dưới cây Bồ Ðề
Thiền định, phương pháp nhận thức ưu việt
Vesali và vườn soài của nàng Ambapali
Varanasi, thành phố thiêng liêng
Lộc Uyển

Dọc đường phương bắc
Rừng Sala tại Câu-thi-na
Xá-vệ và Cấp Cô Ðộc
Hạt cải cho Phật
Ðường đi Nepal
Lâm-tì-ni, khu vườn đã quên
Kathmandou và khuôn mặt vàng

PHẦN THỨ BA : TRUNG QUỐC, XỨ SỞ CỦA BỒ-TÁT
Ánh sáng đến từ phương Tây
Vạn Lý Trường Thành
Linh Quang Tự và chiếc răng của Phật
Ung Hòa Cung và tiểu truyện về Trung Quốc Tây Tạng
Bình Thành và Động Vân Cương
Từ Hằng Sơn đến Quang Minh Đỉnh
Từ tiểu ni cô Nghi Lâm đến nàng Lý Ngư

Ngũ Đài Sơn
Còn đâu nước Thục
Nhân kiệt không đời nào thiếu
Nga Mi Sơn
Những kích thước vĩ đại
Đại Túc, thạch động ngủ quên

Trường Giang tam hiệp
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai
Cữu Hoa Sơn
Ngành sứ Trung Quốc và Cảnh Đức Trấn
Hàng Châu và Tế Điên Hòa Thượng

Cô Tô Thành Ngoại Hàn Sơn Tự
Ninh Ba , đầu nguồn của Thiển Tông Nhật Bản
Phổ Đà Sơn
Giã từ Trung Quốc

PHẦN THỨ TƯ: TÂY TẠNG HUYỀN BÍ
Đức hạnh cao quí
Tổ tiên Tây Tạng
Từ Liên Hoa Sinh đến Tông Khách Ba
Nóc nhà thế giới
Đền Jokhang

Điện Potala và dòng Đạt-lai Lạt-ma
Trong những con đường Lhasa
Tu viện Drepung - "Con trâu điên"
Trên cao nguyên
Gyantse, Đô thị tàn tạ
Kumbum, Man-đâla vĩ đại
Shigatse và dòng Ban-thiền Lạt-ma
Dọc sông Yarlung Tsangpo
Giã từ Tây Tạng

PHẦN THỨ NĂM: ĐOẠN KẾT

26 thg 3, 2009

PhạmDuy/PhỏngVấn

Nhạc sĩ Phạm Duy: Ngày xưa tôi là đứa con hư...
00:42' 27/03/2009 (GMT+7)

- Tôi có nhiều tật lắm. Ăn tham, chơi cũng hết sức dữ dội. Nhưng đó là dĩ vãng, giờ tôi ngoan rồi. Ngày xưa tôi là người con hư.


Nhạc sĩ Phạm Duy. Ảnh: Lê Anh Dũng
Có cảm giác rằng sâu thẳm trong ông vẫn rạo rực cái mà người ta gọi là “tình dân tộc”. Và cuối đời, cái “tình” ấy đã lôi kéo ông trở về quê nhà. Ông có muốn chia sẻ với lớp trẻ VN bây giờ về “tình dân tộc”?

- Tuổi thanh niên bây giờ có những ưu tư vì đất nước không giống chúng tôi ngày còn trẻ. Tôi không dám cả gan khuyên họ điều gì cả. Vấn đề là, trong địa hạt của tôi, khi tôi hát tình dân tộc thì lúc đó tình dân tộc đã lên rất lớn. Từ lúc chúng ta trong vòng nô lệ của thực dân Pháp, nhờ có cuộc cách mạng, nhờ sự lãnh đạo của Đảng lúc đó thì tất cả mọi người mới đi theo. Tình dân tộc không phải do tôi đánh thức, mà do hoàn cảnh xã hội, chúng tôi bị lôi cuốn theo. Văn Cao, tôi hay Trịnh Công Sơn đều thấu hiểu điều đó.

Bài tình tự đầu tiên của tôi là "Tình ca", lúc đó mới có bản sắc quốc gia, lúc đó mới thấy người VN khác người Trung Quốc, Ấn Độ, người Tây phương... ở tiếng nói, cảnh vật và con người. Trong khi mọi người hãy còn đi vào tân nhạc với những tình khúc viết về tình yêu đôi lứa, tôi đã thấy đây là cơ hội độc nhất để tôi khóc cười với dân tộc tôi.

Tôi tin người Việt Nam luôn có tự hào dân tộc. Tôi xa quê hương lâu rồi, không theo dõi kỹ hết được âm nhạc Việt Nam sau này. Nhưng tôi vẫn biết có những ca khúc như Quê hương (Nhạc Giáp Văn Thạch, thơ Đỗ Trung Quân). Nghe bài hát đó tôi nghĩ có người đồng cảm với mình. Nếu không có t"ình tự dân tộc" thì không thể sống.


Nhạc sĩ Phạm Duy. Ảnh: Lê Anh Dũng
Ông có đồng cảm với đồng nghiệp trẻ tài ba của ông, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, về một “vòng tay lớn” thật sự của lớp trẻ không? Làm gì để có cuộc “nối vòng tay lớn” đó? Nhiều người hay so sánh ông và NS Trịnh Công Sơn. Bản thân ông thấy Trịnh giống và khác ông như thế nào?

- Trịnh Công Sơn không khác gì tôi hay Văn Cao. Chúng tôi thao thức về tình tự dân tộc, thấy vòng tay cần nối lại trong lúc đảo điên. Tôi không thể tưởng tượng tôi còn sống đến bây giờ, để thấy ngày vòng tay lớn kết nối lại với như cuộc "trở về". Tôi nghĩ tôi về đây không phải vì mục đích cá nhân, không phải hoài bão riêng của một người. Nhiều người muốn trở về Việt Nam nhưng vì hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh xã hội, nên muốn về lắm mà chưa về đựơc.

Trịnh Công Sơn là nghệ sĩ có tài, có được sự nghiệp rất lớn. Nhiều người đã nói về sự thật đó rồi, tôi không cần nhắc lại làm gì. Nếu so sánh giữa chúng tôi với nhau thì có khác nhau: Trịnh Công Sơn sáng tác tuỳ hứng, còn tôi thì làm việc có chương trình hẳn hoi. Nếu không có chiến tranh thì không có Trịnh Công Sơn như người nghe được biết với những "Ca khúc da vàng". Tôi thì, khi chưa có chiến tranh, mới đi từ Hà Nội vào Nam tôi đã ý thức ngay phải làm nhạc về tình quê hương, tình dân tộc. Theo kháng chiến, tôi đã nói được vinh quang của dân tộc cũng như khổ đau của dân tộc. Tôi làm việc có chương trình, có hoạch định, chứ không phải nổi hứng lên thì làm. Tôi đúng hay sai, tôi hay hoặc dở thì tôi không dám "tự kiêu", nhưng tôi là thế.

Tôi là chứng nhân của thời đại, rất tự nhiên, lúc làm thì trong đầu không nghĩ sẽ bán được nhạc của mình. Tôi theo đúng câu châm ngôn "Âm nhạc không bao giờ nuôi được người làm ra nhạc". Tôi biết khai thác những gì tôi đã làm ra nhưng tôi cũng nghèo thôi. Người ta là triệu phú còn tôi chỉ trăm phú thôi.

Bài hát "Tình ca" đã được rất nhiều người yêu thích hơn nửa thế kỷ qua, ông có thể cho biết hoàn cảnh ra đời của nó và nó có nằm trong kế hoạch sáng tác như ông vừa nói không?

- Về bài hát "Tôi yêu tiếng nước tôi" sáng tác năm 1953, thì không cần ai khen vì chính tôi cũng phải khen tôi rồi. Hồi đó tôi đã có ý thức sáng tác một bài hát về bản sắc dân tộc. Ta đã đánh Tây bao lâu rồi, đã có Chính phủ rồi thì phải có cái gì là bản sắc quốc gia. Khi làm thì không ngờ lại thành công như vậy, dài dòng văn tự mà lại được yêu thích như vậy.

Ông đã từng nhận xét về NS Văn Cao là "Thấp bé hơn tôi nhưng tài hoa thì hơn tôi rất nhiều". Ông có thể kể một kỷ niệm nào đó về thời gian ông và NS Văn Cao sống ở Hải Phòng, cái thời mà ông đã kể lại là ông thì ăn nói văng mạng còn Văn Cao thì lại ăn nói nhỏ nhẹ...

- Tôi học được ở ông ấy rất nhiều. Ông ấy làm thơ hay lắm, còn tôi không làm được thơ. Ông ấy vẽ tranh đẹp lắm, ông ấy vẽ tôi bức chân dung đẹp lắm nhưng tôi làm mất rồi, thật tiếc. Ông ấy làm Thiên Thai, Trương chi tới 99 khuông nhạc, còn tôi chỉ ba mươi mấy khuông là hết rồi. Tôi lúc nào cũng kính trọng ông ấy.

Không những sống chung ở Hải Phòng mà nhữngnăm 1945, 1946, trước ngày Toàn quốc kháng chiến, tối đến chúng tôi kéo nhau đi chơi, tôi thường đùa chúng tôi là những con vạc sống về đêm. Rất nhiều kỷ niệm, như tôi với ông ấy cùng yêu một người con gái chẳng hạn. Thời đó tôi còn hung hăng lắm, ông ấy điềm tĩnh và đứng đắn hơn tôi nhiều.

Tôi có viết rất nhiều về Văn Cao. Tôi là người đầu tiên nói được tất cả những gì ông ấy đã làm trong nhóm của Hoàng Quý, những bài hưóng đạo sinh như Gió núi tôi phải tìm kiếm rất công phu mới được. Ông ấy viết Thăng Long hành khúc, Lịch sử ca... vậy ông ấy đi trước hay ngang Lưu Hữu Phước?


Nhạc sĩ Phạm Duy. Ảnh: Lê Anh Dũng.
Thưa Nhạc sĩ Phạm Duy, người ta ví ông như con chim bách thanh, nhạc của ông đa dạng, phong phú. Hơn nữa ông có khoảng thời gian sáng tạo rất dài... Sau mọi thử nghiệm, ông ưng ý nhất với đề tài nào, phong cách nào, giai đoạn nào? Ông có dự định nào trong thời gian tới không?

- Tôi có may mắn là ham sống và sống dai, sống qua nhiều thời khác nhau. Có những nhạc sĩ chỉ có một thời, không chuyển sang thời khác được. Tôi có may mắn là rất tham lam, không chịu đứng một chỗ. Chạy chỗ này chỗ nọ, luôn luôn bị bà tiên âm nhạc ám ảnh. Lúc nào tôi cũng nghĩ tôi chưa có vợ, kể cả đến khi có vợ và 8 con cũng vẫn bị bà tiên âm nhạc hành hạ. Tôi chủ truơng ngay khi bắt đầu cầm đàn đi hát thì phải phản ánh lại xã hội tôi sống. Tôi "cover" được nhiều tâm trạng, tình cảm của con người. Tôi có tình ca cho sinh viên thị thành, sinh viên trường làng, tình yêu chiến sĩ, tình vợ chồng, rồi tình hờ...

Tất cả nhạc của tôi, dù dưới hình thức tân ca thì cũng là tình ca, tình người. Tôi không thể phê bình nhạc nào của tôi cả, việc đó xin dành cho người thưởng thức.

Thời gian tới, tôi dự định "làm thinh". Con người ta phải có lúc làm, lúc nghỉ. Tôi làm thinh 10 năm nay vì mải theo đuổi nàng Kiều của Nguyễn Du. Khi tôi dự định trở về, tôi có nhiều cảm hứng, làm 10 bài Hương ca, nói về quê hương năm 2000 thì sẽ khác. Đã phổ biến được 5 bài rồi.

Người ta thường nói: có tài có tật. Vậy ông có TẬT nào không? Yêu nhiều có phải là xấu không vì thật sự đôi lúc lý trí không giữ nổi trái tim...

- Tôi có nhiều tật lắm. Ăn tham, chơi cũng hết sức dữ dội. Nhưng đó là dĩ vãng, giờ tôi ngoan rồi. Ngày xưa tôi là người con hư.

Tôi không giản dị như câu nói "đôi lúc lý trí không giữ nổi trái tim" đâu. Tình yêu của tôi khác, tình yêu là đẹp nhất, không có tình yêu thì không có cuộc đời, chuyện yêu đương là tuyệt vời chứ không phải là xấu. Nếu yêu đương mà không gìn giữ sẽ loạn, nên phải có "Khổng Tử" ngồi trên vai chỉ huy mình, chứ thật sự ngoài tình yêu ra thì với vợ con tôi có trách nhiệm, với tất cả người tình tôi rất kính trọng. Không phải người đàn bà nào tôi cũng chơi bời đâu, không hợp duyên thì chia tay thôi. Tôi đã kết luận "người tình tuyệt vời", yêu một người như yêu vạn người, yêu vạn người như yêu một người.

Căn bản âm dương nên trên đời phải có đàn ông, đàn bà. Đàn ông, đàn bà suốt đời đi kiếm nhau đó là điều hết sức thiêng liêng. Đó là tật xấu hay là nết tốt?

Tôi gặp và yêu người tình không phải chỉ vì "tật dục". Nhưng vì cái gì thì tôi không cắt nghĩa được.Nếu cắt nghĩa được thì tên tôi là "Phạm Giới" rồi, may mà không cắt nghĩa được.

Rất nhiều khán giả yêu bài hát Ngày xưa Hoàng Thị, xin hỏi, người con gái trong bài hát này có phải là mối tình đầu của ông không?

- Cô gái đó là người tình của Phạm Thiên Thư chứ không phải người tình của tôi. Phạm Thiên Thư làm bài thơ nói đến người còn gái đẹp, không có cái tên hoa mỹ mà tên cô là Hoàng Thị Ngọ. Tôi thích lắm. Bài đó trong sáng, gợi cho tôi vài ba kỷ niệm cũ. Ông ấy làm những bài thơ hay đến thế, tôi phải phổ nhạc thôi. Bài này tôi sáng tác năm 1970, tôi và ông ấy gặp nhau trong nhà thương khi cùng đến gặp một người bạn. Nhờ tôi mà ông ấy có ý nghĩ viết 10 bài Đạo ca, như 10 bức tranh về đạo. Trước tôi có nhiều thành kiến, gặp ông ấy tôi cởi mở hết.

Trở về Việt Nam, ông đã đi lại "con đường cái quan" của mình chưa? Có bao giờ ông nảy ý định làm tiếp một "Con đường cái quan" của ngày hôm nay không?

- Tôi đã đi 2 lần rồi. Nếu xét lại thì 30 năm ngoại quốc, sự đi của tôi được Nguyên Sa ghi là "kỷ lục thế giới", đi khắp nơi chỉ còn Bắc cực và Nam cực vì lạnh quá không đi được. Con đường cái quan không chỉ từ Bắc vô Nam, nó là mơ ước phá tan ranh giới để đi và tôi cũng thực hiện được rồi.

Nhưng thôi, giờ 90 tuổi rồi, không đủ sức làm "con đường cái quan" nữa. Ai cũng sợ cái chết, tôi có 5, 7 bài nói về cái chết. Tôi viết ra hết sức thản nhiên: Những gì sẽ mang theo vào cõi chết, Ru người hấp hối, Tạ ơn đời, Chủ nhật buồn...

Xin cảm ơn nhạc sĩ về cuộc trò chuyện thú vị này

  • Nhóm PV Văn hoá

23 thg 3, 2009

...NhữngThăngTrầmCủaPhậtGiáo

TẢN MẠN VỀ NHỮNG THĂNG TRẦM
CỦA PHẬT GIÁO

Ðào Viên

Phật Giáo, được đức Thế Tôn đề xướng cách đây trên hai ngàn năm trăm năm, đã trải qua nhiều cuộc thăng trầm suốt chiều dài của lịch sử nhân loại. Từ lúc mới phôi thai khi còn ở một tiểu vương quốc bé nhỏ chân dãy núi Hy Mã Lạp Sơn (nay thuộc Nepal) cho đến ngày nay là một tôn giáo quan trọng, làm nền tảng cho nhiều nền văn hóa Á Châu, và đang lan tràn sang Tây Âu để trở nên một tôn giáo đáng chú ý tại nhiều quốc gia(1), tôn giáo này đã chứng tỏ có một sức sống dẻo dai, bền bỉ. Nếu có những lúc, tại nhiều nơi, Phật giáo đã rất hưng thịnh thì ngược lại, cũng có nhiều thời kỳ, tại nhiều nước, Phật giáo đã bị tiêu diệt gần như hoàn toàn chỉ còn để lại vài chứng tích khảo cổ của một thời kỳ huy hoàng.

Tại Ấn Ðộ, cái nôi của Phật Giáo, thời kỳ hưng thịnh nhất là vào thế kỷ thứ ba trước Tây Lịch, dưới thời đại của vua Asoka (A Dục), quốc vương đi thứ ba triều đại Maurya ở vương quốc Magadha (bây gi là tiểu bang Bihar, Bangladesh). Phật giáo đã chinh phục vương quốc này - hay đúng hơn quốc vương Asoka - không phải bằng võ lực như số phận của nhiều dân tộc nhược tiểu khác với những tôn giáo khác sau này, mà là bằng sức thuyết phục, bằng sự cảm hóa. Người ta kể rằng, trước khi trở thành một Phật tử, vua Asoka cũng là một vị tiểu vương gia phóng túng, ham ăn chơi, thích rượu chè săn bắn như các vị tiểu vương Ấn độ khác thời bấygiờ. Nếu ta tin vào những truyền thuyết, thì vua Asoka còn là một vị hôn quân ác độc đã giết anh em để dành ngôi vua. Vào năm thứ chín của triều đại, vua Asoka mang quân đi chinh phục vương quốc Kalinga, lúc đó còn độc lập đối với Madagha. Cuộc chiến thắng của vua Asoka đã gây tử nạn cho cả trăm ngàn người, và điều này đã làm cho vua Asoka thấy ăn năn hối hận, khiến vua trở thành một Phật tử, một lòng dành cuộc đời còn lại hoằng dương Phật pháp để đem lại hạnh phúc an lạc cho muôn dân. Vua Asoka có lẽ là vị vua đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã lập ra chương trình An Sinh Xã Hội (social security) cho con dân mình. Thấm nhuần Phật pháp, đầy lòng từ bi hỉ xả, vua Asoka đã hạn chế giết hại giống vật - chính vua không săn bắn nữa - gia giảm hình tội, hòa đồng các tôn giáo khác nhau, và nhất là khuyến khích tu sĩ thu thập kinh điển, con dân học hành Phật đạo. Không những chỉ hoằng dương Phật pháp trong vương quốc mình mà thôi - một đế quốc rộng lớn, từ Madagha (Bangladesh bây giờ) tới biên giới Ba Tư (Iran bây giờ) - vua còn gửi các đoàn truyền giáo đi các miền tây bắc, miền nam Ấn độ, cùng là đảo Tích Lan (Ceylan, bây giờ là Sri Lanka) nữa. Ðạo Phật từ tây bắc Ấn đã lan truyền sang Tây Tạng, Trung Hoa, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản. Ðó là hệ phái Ðại Thừa. Từ nam Ấn và Tích Lan đã truyền sang Miến Diện, Thái Lan, Lào và Căm Bốt. Ðây là hệ phái Nguyên Thủy (hay còn gọi là Tiểu Thừa). Phật giáo còn lan cả sang đến Afghanistan. Kinh điển Pali có ghi lại cuộc đối thoại giữa vua Menander (Di Lan Ðà), một ông tướng Hy Lạp, sau làm vua xứ Bactria (nay thuộc Afganistan) và tu sĩ Nagasena (Na Tiên Tỳ Kheo) từ Ấn độ tới.


Vua Asoka (A Dục vương)

Sau nhiều thế kỷ hưng phấn, với những nhà Phật học uyên bác, cao thâm như các ngài Long Thọ (Nagarjuna), Vô Trước (Asanga), Thế Thân (Vasubandhu), Cưu Ma La Thập (Kumarajica), Mã Minh (Asvaghosa) vân vân, đạo Phật đã dần dần tàn lụi ngay tại Ấn độ. Lý do của sự suy vi này không được rõ rệt cho lắm, nhưng nhiều người đã nghĩ tới hai khía cạnh. Thứ nhất, hệ thống triết học siêu hình của Phật giáo đã mất tính chất độc đáo khi tôn giáo này bắt đầu du nhập một số nguyên lý siêu hình của Ấn độ giáo (Hinduism), có lẽ là để có thêm tín đồ. Bởi vậy Ấn độ giáo (Vệ đà) đã tìm cách đồng hóa Phật giáo vào hệ thống tư tưởng của mình - coi Phật giáo là một biến thái của Ấn độ giáo - bằng cách cũng nhận thuyết bất nhị (nonduality) mà chỉ trích Phật giáo ở chỗ đã kết nạp cả những vị thần Ấn độ giáo vào hàng các vị chư Phật, Bồ Tát. Thứ hai, chủ trương công bằng xã hội, không phân biệt giai cấp của Phật giáo đã không được các giới lãnh đạo ủng hộ, nếu không phải là bị coi là nguy hiểm. Nhưng sang đến thế kỷ thứ mười hai sau Tây lịch, với sự xâm nhập của Hồi giáo (Islam), thì Phật giáo tại Ấn coi như bị tận diệt. Hồi giáo, cũng như Cơ Ðốc giáo (Christianism), là một tôn giáo độc thần có thái độ bất bao dung đối với các tín ngưỡng khác, coi những tín ngưỡng khác, nhất là một tôn giáo mà họ gọi là đa thần như Phật giáo, là một thứ tín ngưỡng ma quỷ không thể dung thứ được. Người Hồi đã xâm nhập vào tây bắc Ấn độ từ 1001 sau Tây Lịch và đã tàn phá tất cả đền chùa, đạo tràng, công trình xây cất, thư viện, giết hại các tăng chúng và đốt tất cả các kinh điển. Các đại học Phật giáo tại Nalanda và Vikramashila, xưa kia có cả ngàn tăng chúng tu tập, - trong số đó có các ngài Cưu Ma La Thập, Pháp Hiển, Huyền trang, Bồ Ðề Ðạt Ma - đã bị tàn phá không còn gì. Ðến năm 1193, quân Hồi chiếm đ ược Madagha thì Phật giáo, như là một động lực trí thức và tâm linh cüa vån minh Ấn Ðộ, đã mất hẳn.

Phật giáo tại Tích Lan may mắn hơn, đã trường tồn suốt chiều dài lịch sử quốc gia, từ thời vua Asoka cho đến ngày nay. Theo sử liệu Tích Lan, thể theo lời yêu cầu của vua Tissa Tích Lan (thế kỷ thứ ba trước Tây Lịch), vua Asoka đã phái con trai là hoàng tử Mahinda, và sau đó con gái là công chúa Sanghamitta sang hoằng dương Phật pháp tại đảo nàỵ Chính công chúa Sanghamitta đã lấy một cành Bồ Ðề sang trồng tại Tích Lan mà còn tươi tốt đến tận bây giờ. Dưới ảnh hưởng tốt đẹp của Phật giáo, Tích Lan đã được hưởng một thời kỳ thịnh vượng, thanh bình gần ngàn năm. Pháp Hiển Ðại Sư đi chu du học đạo từ Ấn độ đến Tích Lan vào thế kỷ thứ năm sau Tây Lịch, khi trở về Trung Hoa đã ghi lại nhiều chứng tích của thời đại huy hoàng ấy. Sang thế kỷ thứ sáu và thứ bảy thì Phật giáo Tích Lan suy vi vì nội bộ chia rẽ và vì nạn xâm lấn của giống người Tamils phía nam Ấn độ, nhưng sau đó chấn chỉnh lại được.

Từ thế kỷ thứ 16 trở đi, với sự xâm lăng của các nước Tây Âu, Phật giáo Tích Lan đã phải trải qua nhiều pháp nạn khủng khiếp. Mới đầu là người Bồ Ðào Nha (Portugese 1540-1658), vì muốn bắt dân Tích Lan cải đạo thành Cơ Ðốc La Mã (Catholicism), đã phá hủy các chùa chiền, thư viện, hôi của các đền đài, sát hại tăng đoàn. Tất cả những ai mặc áo cà sa vàng là bị giết, đến nỗi sau khi người Bồ bị đuổi đi, toàn thể Tích Lan chỉ còn có 5 vị sa di so với 60,000 vị được Pháp Hiển đại sư ghi lại từ mười thế kỷ trước. Sau đó đến lượt người Hòa Lan (1678-1795) và người Anh (1795-1956) cũng tìm cách du nhập đạo Cơ Ðốc Tin Lành (Protestant) vào Tích Lan. Thái độ của đạo Tin Lành đỡ cực đoan và hung hãn hơn đạo Cơ Ðốc La Mă. Họ đem những mối lợi kinh tế, xã hội và chính trị dụ dỗ người bản xứ cải đạo Thí dụ như muốn làm việc cho chính phủ bảo hộ Anh thì tốt hơn hãy trở thành Tin Lành. Nhưng hiểm họa lớn hơn đối với Phật giáo Tích Lan là khi những nhà truyền giáo Cơ đốc đổ vào Tích Lan, mở các trưng học, với sự trợ giúp của nhà cầm quyền Anh, bài xích Phật giáo như một mê tín sùng bái thần tượng. Kinh nghiệm tương tự cũng đã xẩy ra tại Việt Nam. Phật giáo phản công lại, và phải nhờ đến một tu sĩ trẻ tuổi có tên là Mohottivatte Gunananda, thông minh, học rộng, uyên bác cả Phật học lẫn triết học và kinh điển Cơ đốc giáo, mới ngăn chặn được sức tấn công của Cơ đốc giáo, và người dân Tích Lan mới giữ vững được tín ngưỡng cổ truyền.

Ông Henry Steel Olcott và bà Blavatski (1882)

Cũng phải kể thêm đến hai nhân vật khác đóng góp rất nhiều vào việc chấn hưng và hoằng dương Phật pháp tại đảo này. Một là ông Henry S. Olcott, người Hoa Kỳ. Sau khi nghiên cứu đạo Phật tại Tích Lan, Olcott đã hoàn toàn tin tưởng đạo Phật là một tôn giáo cao cả nhất cho loài người Năm 1880, ông đã thành lập Buddhist Theosophical Society, gây quỹ tổ chức các trường giậy Phật học. Hội của ông đã gây được nhiều tiếng vang tốt, củng cố cho vai trò của Phật giáo rất nhiều trong xứ cũng ngoài xứ. Người thứ hai là một nhà tu sĩ bản xứ, tên là Dharmapala Ông đã sáng lập ra hội Mahabodhi Society để quảng bá và giảng giậy Phật pháp. Nhờ những người trên mà dân chúng Tích Lan vẫn tin tưởng và giữ vững lòng tin vào đạo cổ truyền. Có lẽ vì phải dấn thân tranh đấu trực diện với những tổ chức tôn giáo ngoại lai, làm chính trị, dùng những thủ đoạn chính trị để bài xích đạo Phật, mà Phật giáo Tích Lan sau này cũng không còn tính cách thuần tôn giáo nữa và cũng họp thành những đảng phái chính trị tham gia chính quyền. Sau khi dành lại độc lập khỏi người Anh năm 1956, Tích Lan có khoảng 65% dân theo Phật giáo.

Sau Tích Lan, phải nói tới Phật giáo Trung hoa. Phật giáo có lẽ đã được du nhập vào xứ này từ thế kỷ thứ nhất trước Tây Lịch, lúc đó vào thời nhà Hán. Khi đó Khổng giáo và Lão giáo đã thấm nhuần vào đời sống xã hội và tâm linh người Trung Hoa. Vì chính bản chất bao dung của tôn giáo nhập cảng, không tìm cách thay thế tín ngưỡng địa phương, và nhất là giá trị thực chất của tư tưởng siêu hình trong Phật giáo, rất gần với tâm tư Trung Hoa, đặc biệt là tư tưởng Lão Trang, cho nên Phật giáo đã được đón nhận dễ dàng. Suốt thời kỳ từ nhà Hán đến đi nhà Ðường, Phật giáo lan tràn rộng rãi trong nhân gian. Giới trí thức nghiên cứu Phật pháp rất nhiều và vua quan các triều đại, nhận thấy ảnh hưởng lợi ích của Phật giáo, cũng ủng hộ xây cất chùa chiền và ấn tống kinh sách. Nếu có nhiều tu sĩ Ấn đến Trung Hoa hoằng dương Phật pháp, nổi tiếng như các ngài Cưu Ma La Thập, Bồ Ðề Ðạt Ma, thì cũng có nhiều vị chân tăng Trung Hoa sang Ấn độ (thời đó gọi là Tây Trúc) tu tập và thỉnh kinh, như các ngài Pháp Hiển và Huyền Trang. Kinh điển Phạn ngữ và Pali được đem về và dịch ra tiếng Hán đã là một kho thư tịch rất quý báu cho mọi công trình nghiên cứu Phật học sau này, sau khi Phật giáo bị người Hồi tận diệt tại Ấn độ.

Óc sáng tạo của người Trung Hoa đã khai triển thêm triết học Phật giáo với sự thành lập nhiều tông phái Ðại Thừa như Tịnh Ðộ Tông, Thiên Thai Tông, Hoa Nghiêm Tông, Thiền Tông v.v… và từ đó đã đẩy mạnh sự phát triển Phật giáo. Phật giáo Trung Hoa dần dần có một bản sắc riêng hợp với văn hóa bản xứ hơn (thí dụ Quan Thế Âm Bồ Tát, là đàn ông, đã được người Trung Hoa biểu tượng là một người đàn bà).



Tượng Phật Thích Ca khắc trên núi đá ở Leshan

Trung Hoa đã có một thời kỳ cực thịnh dưới đời nhà Ðường. Phật giáo nương theo đó mà phát triển. Vì khách thập phương đi chùa mỗi ngày một đông, triều đình và các nhà quý tộc yểm trợ bằng tiền bạc cũng như hiện vật - đặc biệt địa ốc để xây chùa - thêm nhiều, Phật giáo Trung Hoa đã mở rộng hoạt động vào các lãnh vực thế tục như thương mại, công nghệ để quản trị và gia tăng tài sản. Nhiều chùa trở nên giầu có, tăng chúng gia tăng rất nhanh, làm giảm giá trị của sự tu hành. Ðiều này đã làm cho giới Nho sĩ theo đạo Khổng và đạo Lão làm quan trong triều đình rất bất bình, nên đã tâu vua trừng phạt. Năm 845, triều đình nhà Ðường, lúc đó ngân quỹ đang bị giảm sút vì các chùa và tăng đoàn được miễn thuế quá nhiều, đã mở một cuộc đàn áp rất lớn. Theo sử liệu Trung Hoa có tới 4,600 đại Thiền Viện và 40,000 chùa, am bị phá huỷ, trên 260,000 sư ni bị bắt hoàn tục, ruộng đất bị tịch thu, vàng bạc ngọc ngà châu báu tích tụ ở các chùa chiền bị bỏ vào ngân khố triều đình.

Từ đó, Phật giáo Trung Hoa có truyền thống phải phục vụ cho, và chịu sự kiểm soát của, triều đình. Triều đình mới có quyền ra sắc phong cho tăng ni được quy y, làm phật sự, lập sổ đăng bạ cho tăng lữ, quyết định số sư sãi ở chùa, bắt tăng ni hoàn tục nếu cần. Truyền thống đó vẫn tồn tới đến ngày nay. Tuy vậy, về mặt tư tưởng, Trung Hoa đã thành một trung tâm Phật học chính trong vùng, mà từ đó chánh pháp đã được lan tràn sang các nước lân bang như Triều Tiên (Hàn Quốc), Nhật Bản và Việt Nam.

Phật giáo được du nhập vào Nhật Bản từ thế kỷ thứ sáu qua ngả Bách Tế tức Triều Tiên hay Ðại Hàn bây giờ. Sử chép rằng năm 538 sau Tây Lịch, một tăng đoàn Triều tiên, được Thái Tử ở Kudura phái sang triều đình Nhật để giới thiệu một tôn giáo tốt đẹp nhất, theo ông ta. Lúc đầu triều đình Nhật rất chia rẽ về chuyện này. Phải chờ đến nửa thế kỷ sau, khi Thái tử Shokutu (Thánh Ðức) làm Nhiếp Chính Vương, khi đó ngài mới 19 tuổi, thì Phật giáo mới được hoàn toàn chấp nhận. Và cũng nhờ quyết định của vị Nhiếp Chính Vương trẻ tuổi say mê tôn giáo mới mà Phật giáo đã trở thành quốc giáo. Thái tử Shokutu, giống như vua Asoka bên Ấn độ, đã dốc lòng phát triển Phật giáo trong mọi lãnh vực, và Phật giáo ngược lại cũng đã ảnh hưởng sâu đậm vào nền văn minh xứ này, từ văn chương thi phú, qua âm nhạc, vũ điệu đến hội họa, kiến trúc. Trước khi Phật giáo được du nhập vào thì Nhật Bản vẫn có một tín ngưỡng cổ truyền là Thần giáo (Shintoism), một tôn giáo coi vị thủy tổ của dân Nhật là một vị nữ thần tức Thái Dương Thần Nữ. Lúc đầu, giới đạo sĩ Thần giáo có chống đối Phật giáo. Nhưng dần dà dưới ảnh hưởng của triết học Phật giáo, Thần giáo cũng thay đổi và chấp nhận nhiều vị Phật, như cho là Phật Ðại Nhật Như Lai (Mahavairocana), cũng là hiện thân của Thái Dương Thần Nữ.



Một ngôi chùa cổ ở Uji-shi, ngoại ô Tokyo

Nhiều tu sĩ Nhật đã sang Trung Quốc tầm sư học đạo và thỉnh kinh về nước. Khi về nước, họ đã lập ra nhiều tông phái khác nhau để hoằng dương Phật pháp rất nổi tiếng sau này. Ba tông phái chính của Phật giáo Nhật Bản là Lâm Tế (Rinzai của thiền sư Eisai còn gọi là Vinh Tây), Tào Ðộng (Soto của thiền sư Dogen còn gọi là Ðạo Nguyên), và Nhật Liên Tông (Nichiren do pháp sư Nichiren hay Nhật Liên lập nên). Ngoài ra, các tông phái khác như Tịnh Ðộ Tông (của pháp sư Honen, Pháp Nhiên), Mật Tông, Pháp Hoa Tông cũng vẫn hoạt động. Mặc dầu, suốt chiều dài lịch sử, Phật giáo Nhật cũng có những thời kỳ khủng hoảng (sư sãi đạo đức sa sút, chùa chiền làm giầu mờ ám..) nhưng nhờ sự ủng hộ của vua quan các triều đại, được sinh hoạt trong một xã hội tương đối ổn định không bị ngoại xâm, với một nền quân chủ được sự kính trọng của dân mà lại dành nhiều dễ dàng cho Phật giáo, cùng với sự xuất hiện của nhiều cao tăng đạo cao đức trọng, nên tôn giáo này đã phát triển rất mạnh và đóng góp rất nhiều vào nền văn minh Nhật.

Tây Tạng là một nước nhỏ ở giữa hai nước khổng lồ là Ấn độ và Trung Quốc tất nhiên phải chịu ảnh hưởng nặng nề của hai nước này. Về văn hóa, ảnh hưởng Ấn, nhưng về chính trị thì ảnh hưởng Trung Hoa. Phật giáo được du nhập từ Ấn độ vào từ thế kỷ thứ bẩy do ý muốn của một nhà vua Tây Tạng, bởi vì nhà vua có nhiều vợ trong số đó có một vị là công chúa xứ Nepal, một Phật tử. Một tu sĩ Phật giáo ngành Mật Tông Ấn độ có tên là Padmasambhava được mời sang hoằng pháp. Nếu ta tin vào những truyền thuyết thì nguyên do là nhà vua đã bị ma quỷ của bọn phù thủy theo đạo Bon - một tín ngưỡng địa phương dựa nhiều vào các phép phù thủy tà ma - quấy phá, phản đối ý muốn của vua muốn theo đạo Phật. Cũng vẫn theo truyền thuyết thì đại sư Padmasambhava đã thi triển phép thần thông hàng phục được bọn tà ma quỷ quái đó và Phật giáo trở nên tôn giáo chính của xứ này. Thực tế, có lẽ là đại sư Padmasambhava và những người ủng hộ ngài đã khéo léo đánh bại được đối thủ là các đạo sĩ Bon trong một cuộc tranh dành ảnh hưởng chính trị trong triều đình Tây Tạng. Vì đại sư chuyên tu Mật tông nên Phật giáo Tây Tạng đã có một sắc thái đặc biệt khác với Phật giáo tại các quốc gia khác. Mật Tông là một biến thái của Ðại thừa, phát triển từ miền Tây Bắc Ấn, tại đó dân cư thưa thớt, trình độ thấp kém, làm nghề du mục hay giặc cướp ở những miền hoang dã. Ở đây Phật giáo không thể truyền bá bằng những triết lý siêu hình như Bát Nhã Ba La Mật Ða được mà phải thay đổi cho phù hợp với điều kiện và nhu cầu địa phương, phải nhấn mạnh đến khía cạnh linh thiêng có tính cách mê tín như nghi lễ, thần chú, bùa phép, thần thông v.v.. Cũng vậy, ở Tây Tạng, để thích hợp với nếp sống địa phương, Phật giáo cũng đã phải kết nạp một số tín ngưỡng cổ truyền của đạo Bon để trở thành một ngành riêng biệt của Ðại Thừa Mật Tông gọi là Lạt Ma giáo (Lamaism). Vì được nhà vua giúp đỡ, tăng lữ Lama trở nên có quyền thế, địa vị cao trong xã hội, điều này đã gây mâu thuẫn với giới quý tộc. Sang thế kỷ thứ 9, một cuộc thanh trừng đã xẩy ra. Chùa chiền, đạo tràng bị phá huỷ, kho tàng Phật giáo bị đốt phá, tăng sĩ bị giết đầy ải hay bắt hoàn tục. Phật giáo tưởng như sẽ mất hẳn.


Nhà sư Tây Tạng đang tạo hình một Mandala


Đại sư Atisha, ảnh vẽ từ tu viện Kampala

Phải chờ đến thế kỷ thứ 11, trong một không khí dễ chịu hơn, Phật giáo mới hồi sinh được tại Tây Tạng, nhờ công lao của một đại sư Ấn độ, cũng theo Mật Tông, tên là Atisha, được mời sang giúp đỡ. Dưới sự lãnh đạo của đại sư Atisha, nhiều chùa chiền lại được xây cất lên, kinh điển được viết lại, tăng chúng được huấn luyện, đào tạo thêm, chỉnh đốn lại kỷ cương. Lại bắt đầu một thời kỳ phồn thịnh của Phật giáo. Trong thời kỳ này, đã xuất hiện nhiều tu sĩ tài ba xuất sắc như Naropa, Marpa và nhất là đồ đệ ông này tên là Milarepa, mà người ta còn nhớ đến như là một đạo sĩ pháp thuật cao cường có nhiều phép thần thông khác lạ. Tăng thống Tây Tạng lại cùng với giới quý tộc cầm quyền chính xứ này. Sang đến thế kỷ thứ 12, Phật giáo Tây Tạng đã gây được cả ảnh hưởng sang đế quốc Mông Cổ vì đã thuyết phục được với Hãn Mông Cổ theo đạo Phật, thay vì Thiên Chúa giáo, lúc ấy đang được một giáo sĩ Jesuite(2) truyền bá. Thế nhưng quyền lợi, của tư hữu, cũng như lạc thú thế tục lại một lần nữa làm hư hỏng những trưởng tử Như Lai, và chia rẽ trầm trọng lại xẩy ra. Một phe là các vị Mũ Ðỏ, - còn được gọi là trường phái Kagyu - phe kia là các sư Mũ Vàng - còn gọi là trường phái Geluk - lãnh đạo bởi một vị trưởng lão lỗi lạc là Tsong-kha-pa và rồi cháu ông ta là dGe-ldun-grub-pa. Trong cuộc tranh chấp chính trị thế tục này, các nhà lãnh đạo tăng thống Tây Tạng đã có một hành động có âm hưởng lớn lao đến tương lai Tây Tạng sau này: Họ đã nhờ đến ngoại bang can thiệp.

Năm 1578, trưởng lão Sonam Gyatso thuộc phe Mũ Vàng đã sang Mông Cổ để thực hiện một liên minh chính trị, và được Ðại Hãn Mông Cổ ban cho chức vị là Dalai Lama, người đầu tiên có chức vị này. Trưởng Lão Sonam Gyatso là truyền thừa đời thứ 3 ngành Geluk từ đại lão dGe-ldun-grub-pa xuống, nên được gọi là Dalai Lama đời thứ 3. Ðến năm 1641, để giải quyết vụ tranh chấp với phe Mũ Ðỏ đã đến hồi quyết liệt, vị Dalai Lama đi thứ 5 đã kêu gọi quân đội Mông Cổ vào can thiệp. Kết quả là Phật giáo Lama được thống nhất và Tây Tạng, về đời cũng như về đạo, tôn giáo cũng như chính trị, được đặt dưới quyền cai trị tối cao của vị Dalai Lama. Tuy nhiên, Ðại Hãn Mông Cổ đã tự phong cho mình là Vua Tây Tạng và xứ này, từ đó về sau, trở thành một thuộc quốc của Mông Cổ, rồi sau đó, của Trung Quốc. Vị Dalai Lama thứ 5 này đã có công xây cất toà đaị viện Potola, một công trình kiến trúc khổng lồ là trung tâm quyền lực chính trị và tôn giáo xứ này.

Ngài cũng đã làm một quyết định có ảnh hưởng lớn lao đến tương lai xứ sở, mà lúc đầu ngài có thể không ngờ tới. Ðể vinh danh và trả ơn vị thầy mình, một vị trưởng lão tu viện Tashilumpo, ngài đã tuyên dương cho vị trưởng lão đó một chức vị tối cao, ngang hàng với chức vị của mình, gọi là Panchen Lama (Ban Thiền Lạt Ma), một chức vị có thể truyền thừa lại cho hàng thừa kế. Ðiều này đã gây rắc rối cho Tây Tạng sau này bởi về sau, những chia rẽ giữa hai giòng Lạt Ma đã mở cửa cho ngoại bang (nhà Thanh bên Trung Hoa và người Anh bên Ấn độ) dễ dàng can thiệp. Quả nhiên, đến đời nhà Thanh, vị Ban Thiền Lạt Ma thứ 6 đã phải chạy sang Thanh Triều sau cuộc tranh chấp chính trị với vị Dalai Lama thứ 13, để trở thành một quân cờ cho người Trung Hoa thao túng. Ðến năm 1950, sau khi chiếm xong toàn bộ Tây Tạng, mà họ coi là một thuộc quốc từ lâu, Trung Hoa Cộng sản đã đem một vị Ban Thiền Lạt Ma từ Trung Hoa về trị vì thay thế cho vị Dalai Lama thứ 14 đã bỏ chạy sang Ấn độ.

Phật giáo ở Miến điện, Thái Lan, Lào, và Căm Bốt giống nhau ở chổ tất cả đều theo Phật giáo Nguyên Thủy hay Tiểu thừa và được sự ủng hộ của nhà vua, dưới một nền quân chủ tương đối vững vàng. Phật giáo ở những nước này không có những thăng trầm đặc biệt đáng kể.


Tăng sinh Lào trên đường khất thực

Chùa Monywa tại

Rangoon (Miến Điện)

Phật giáo Ðại Thừa cũng lan truyền cả sang Nam Dương quần đảo và cũng có một thời cực thịnh dưới triều đại Sailendra. Ðến khi Hồi giáo lan đến quần đảo này thì, cũng như tại Ấn độ, Phật giáo đã bị tiêu diệt. Ngày nay, chỉ còn một chứng tích cho thời đại huy hoàng ấy là công trình kiến trúc mỹ thuật với cả ngàn pho tượng Phật khổng lồ tại Borodudur, thuộc đảo Java. Borobudur ngày nay được coi là một kỳ quan của châu Á.

Ðối với những thăng trầm của Phật giáo Việt nam, thì đây là một đề tài khá quen thuộc với các độc giả, vì đã là đối tượng của nhiều cuộc biên khảo có gía trị(3). Phật giáo đã được du nhập từ Ấn độ vào Việt Nam từ thế kỷ thứ 2 Tây lịch, lúc đó nước ta, còn gọi là quận Giao Chỉ nội thuộc Trung Quốc. Trung tâm Phật giáo đầu tiên được hình thành là Trung Tâm Luy Lâu, nay là phủ Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh. Thiền học Trung Hoa chỉ vào Việt Nam ở thế kỷ thứ 3, do một người Việt Nam, tên là Khương Tăng Hội du nhập sau khi tu học tại Kiến Nghiệp, thủ đô nhà Ðông Ngô (nay là Nam Kinh). Sang đến thế kỷ thứ 10, khi Việt Nam dành lại được quyền tự chủ (Ngô Quyền, Ðinh tiên Hoàng..), thì Phật giáo mới tích cực đóng góp xây dựng đất nước. Cao điểm là dưới thời nhà Lý (thế kỷ thứ 11), với nhiều vị cao tăng (Pháp Thuận, Vạn Hạnh, Lý Giác, Ngô Chân Lưu…) góp công vào chính sự giúp vua trị nước. Họ không tham gia, nắm giữ chính quyền như các Hồng Y Giáo Chủ Mazarin, Richelieu của đạo Cơ Ðốc La Mã bên trời Âu, mà chỉ góp ý kiến, công việc khi được vua hỏi và nhờ vả. Song việc lại trở về chùa. Thời đó các tăng sĩ phần nhiều là những người có học, gần cận với dân, có đạo đức uy tín, nhưng không ham danh lợi thế tục, nên được vua vời đến. Ðời Lý có thể gọi là “đời thuần từ nhất nước ta (với những vua Lý Thánh Tông , Nhân Tông). Ðó là nhờ ảnh hưởng của đạo Phật”, như một học giả(4) đã nhận định.

Sang đến đời nhà Trần thì Phật Giáo đã đến thời kỳ cực thịnh. Các vua nhà Trần đều giỏi Phật học. Họ là những nhà lãnh đạo chính trị tài giỏi mà rất gần với dân. Quốc gia bền vững, trên thuận dưới hòa, quân dân nhất trí, cho nên Hội Nghị Diên Hồng mới có thể triệu tập được và đoàn quân bách chiến bách thắng Mông Cổ mới bị đẩy lui. Dưới đời nhà Trần, một ngành Thiền Tông đặc biệt Việt Nam ra đời, đó là Phật Giáo Trúc Lâm. Do ảnh hưởng lớn lao của vua Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng sĩ, đặc biệt vua Trần Nhân Tông, còn gọi là Trúc Lâm Đại Đầu Đà, Phật Giáo Trúc Lâm núi Yên Tử đã thống nhất được với 3 môn phái khác là Tỳ Ni Ða Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Ðường. Ngoài Thiền tông, Mật tông cũng có ảnh hưởng lớn đến Phật giáo Việt Nam nhờ sự đóng góp của một số tu sĩ Mật tông từ Ấn độ, Tây Tạng và Mông Cổ tới. Tăng đoàn đông đảo (trên 15,000 vị riêng phái Trúc Lâm), chùa tháp xây cất thêm nhiều, có nhiều cao tăng xuất hiện như vua Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, vua Trần Nhân Tông hay Trúc Lâm Đại Đầu Đà , Pháp Loa, Huyền Quang…trước tác để lại nhiều tác phẩm Phật học.



Bóng chùa Một Cột trên mặt nước hồ Linh Chiểu

Cuối đi nhà Trần sang đời nhà Lê, Phật giáo suy đồi, sau một thi kỳ cực thịnh. Lại nữa, khi Trương Phụ sang chiếm đóng nước ta (thế kỷ thứ 15), quân nhà Minh đã áp dụng chính sách đồng hóa dân ta. Bao nhiêu sách vở trước tác, nhất là về Phật học đều bị thu lượm về Tầu, thay thế bằng những tác phẩm cuả Trung Quốc. Sau đó, Nho học kiểu Tống nho được đề cao và Phật giáo bị giới trí thức khoa bảng đả kích. Kể từ đó, cho cả đến thời nhà Nguyễn, Nho học đã trở thành độc tôn, thì Phật giáo, như là một lực lượng lãnh đạo, chính trị văn hóa, đã bị mất ảnh hưởng. Nhưng về phương diện xã hội, tâm linh, Phật giáo, sau nhiều thế kỷ, đã đi sâu vào lòng dân Việt nam để nhào nặn ra con người Việt Nam như ngày nay: hiền hòa, chăm chỉ, khiêm cung, chịu cực.

Suốt mấy thế kỷ nội chiến, từ Trịnh Nguyễn phân tranh, dến Nguyễn Ánh Tây Sơn, xã hội Việt Nam trở thành tan nát, chia rẽ. Cuộc trả thù những người theo Tây Sơn của Nguyễn Ánh và các vua kế nghiệp càng làm cho dân chúng mất tin tưởng vào chính quyền trung ương. Người dân dễ dàng đón nhận một lối thoát mới, khi các nhà truyền giáo Tây Âu đến nước ta. Ðến khi người Pháp áp đặt được nền đô hộ lên Việt Nam, thì Phật giáo lại càng ở một thế kém hơn, tàn lụi nhanh hơn. Cơ Ðốc giáo La Mã, được sự trợ giúp của chính phủ bảo hộ Pháp đã lấn át Phật giáo cả về phương diện chính trị xã hội (Dụ số 10), lẫn văn hóa, và nhất là về giáo dục quần chúng. Năm 1915, khi người Pháp bãi bỏ chế độ giáo dục và thi cử dựa tên Hán Nôm - nền tảng của tam giáo Nho, Lão, Phật - mà thay thế bằng chữ quốc ngữ và Pháp văn, thì Phật giáo đã bị một đòn chí tử. Phật giáo không còn có chỗ đứng nào để đóng vai trò chỉ đạo về tâm linh cũng như đạo đức cho lớp hậu thế như trước nữa. Lớp trí thức lãnh đạo mới, (Ðông Dương Thời báo và Nam Phong Tạp Chí, rồi Phong Hóa) xuất thân từ các trường Thông Ngôn, trường Hậu Bổ, các trường Lycées và các trường nhà dòng, choáng váng trước văn minh nước Ðại Pháp, đã chỉ trích và bỏ rơi Phật giáo cũng như Nho giáo mà chạy theo Tây học(5). Cái dây nhau nối liền thế hệ cũ (Khổng học, Lão học, Phật học) với thế hệ mới đã bị cắt đứt. Cả một truyền thống dân tộc, trong đó có vai trò quan trọng của Phật giáo, đã bị vùi vào quên lãng.

* * *

Nhìn lại những bước thăng trầm của Phật giáo, trên các nước ở Á Châu, qua các thời đại, người ta không khỏi suy tư, thắc mắc muốn hiểu tại sao những chuyện ấy đã xẩy ra như vậy. Bình tĩnh nhìn sâu vào sự việc, đằng sau hay ở lớp dưới những sự kiện lịch sử, người ta có thể thấy những gì và từ đó có thể có những nhận định gì về tương lai của Phật giáo trong một thế giới mới khác hẳn, một nền văn hóa Tây Âu rất khác với Á Châu.

Có lẽ nhận định đầu tiên mọi người đều có là Phật giáo là một tôn giáo rất mềm dẻo. Ðến đâu, ở những xã hội rất khác nhau, những nền văn hóa khác biệt, tôn giáo này vẫn tìm cách thích ứng được với điều kiện địa phương, nhân nhượng ở những hình thức, nghi lễ bên ngoài mà không thay đổi những nguyên lý siêu hình căn bản. Bởi vậy, các tông phái Phật giáo có rất nhiều hình thức rất khác nhau, mà vẫn không chống đối nhau. Nếu người ta ngồi nói chuyện với các bậc tu hành các tông phái khác nhau ấy thì không ai có thể nhầm mà cho họ không phải là trưởng tử của Như Lai. Từ một vị Lạt Ma rách rưới lam lũ tu khổ hạnh ở một hang động trong dảy Hy Mã Lap Sơn đến một vị thiền sư trang nghiêm đẹp đẽ Nhật tại Kyoto, ta thấy phong thái họ khác hẳn nhau; tuy nhiên cả hai đều tỏ ra có một định lực thâm hậu, vững chãi, toát ra một lòng từ bi cao cả rộng lớn của những người đã đạt đến quả bất hoàn. Tham dự một buổi lễ Mật tông trong một chùa Tây Tạng, chiêng trống ầm ĩ, với nhiều hình tượng trông đáng sợ, và một khóa tụng kinh hiền hòa tại một đạo tràng ở Việt Nam, ta thấy rất khác. Mềm dẻo đã giúp cho Phật giáo sống còn, nhưng tính chất này cũng có thể có hại. Trường hợp sự suy tàn của Phật giáo Ấn Độ - sau khi những bậc đại trí giả, những triết gia kỳ tài như Long Thọ, Vô Trước, Thế Thân, Mã Minh không còn nữa, đã phải nhân nhượng cả về phương diện giáo lý với giáo phái Vệ Ðà của Ấn Độ giáo - là một thí dụ.

Một đặc điểm khác của Phật giáo là tôn giáo này có nhiều tính chất của một hệ thống triết học siêu hình hơn là một tôn giáo. Phật giáo không có những tín lý (faith), những giáo điều (dogma) cứng nhắc, không nhân nhượng, không thể nghĩ bàn như một số các tôn giáo độc thần (monotheism), đặc khối (monolithic) khác. Ngược lại, Phật giáo có dành chỗ cho hành giả suy tư, chứng nghiệm lấy những giáo lý cao thâm của nhà Phật qua quán chiếu hay thiền định. Bởi vậy, khi du nhập vào một xã hội lành mạnh bình thường, đang tìm hướng phát triển đi lên, thì Phật giáo tỏ ra rất thích hợp, bởi tính chất bao dung, cởi mở, mềm dẻo, không đe dọa, không áp đặt, không cưỡng ép, khác hẳn với các tôn giáo độc thần đặc khối khác, thường chỉ bành trướng được là nhờ vào hậu thuẫn quân sự hay chính trị. Ðiều này đã giải thích sự du nhập dễ dàng, tự nhiên, và sự phát triển rộng rãi và sâu xa trong các xã hội khác nhau tại các nước nói đến trong phần trên.

Giáo lý nhà Phật có tính chất rất nhân bản và thực tế. Ðiều này cho thấy rõ ảnh hưởng tốt đẹp đã đóng góp vào sự phồn vinh cũa các xã hội như Trung Hoa, Nhật Bản, từ văn chương, thi phú, qua âm nhạc, hội họa, cho đến điêu khắc, kiến trúc.

Một nhận định khác khi xét tới những bước thăng trầm của Phật giáo là bản chất của tôn giáo này. Bản chất này là một xu hướng hướng nội đặt ưu tiên vào sự tự tu tập, sửa mình của từng cá nhân, qua quán chiếu và thiền Phật giáo là nhận định khi nhìn vào bản định, tự mình giác ngộ lấy mình, sao cho mở được Tâm Phật có sẵn trong người, để đạt được lòng Từ Bi Hỷ Xả đối với chúng sinh. Người Phật tử phải làm công việc này trước tiên, trước khi làm gì với đồng loại bên ngoài xã hội. Mà nếu có làm gì cho mọi người thì cũng chỉ có thể giúp họ tự tu tập lấy như mình để tự giải thoát, chứ không thể ép buộc được. Xu hướng này khác xa với xu hướng hướng ngoại của một số tôn giáo khác, lấy mục tiêu đầu tiên và chính yếu là lôi kéo mọi người vào con đường của tín ngưỡng mình, không cần phải suy nghĩ, chỉ cần tin tưởng vào một số tín điều võ đoán, và nếu cần, bằng cưỡng chế áp đặt. Bởi vậy, nếu hoạt động chính trị là một chuyện đương nhiên và cần thiết cho sự sinh tồn của các tôn giáo ấy, thì dường như điều đó không chắc có thích hợp cho sự phát triển của Phật giáo. Nhìn vào những thăng trầm của Phật giáo ta thấy khi Phật giáo đã liên quan sâu rộng vào những chuyện thế tục - tranh dành ảnh hưởng chính trị, nắm giữ quyền chính, làm kinh tài - thì khó mà giữ được giới hạnh (trì giới là hạnh quan trọng hàng đầu của tăng nhân) của các cá nhân tu sĩ, và kỷ cương của tăng đoàn. Tăng đoàn sẽ không còn có những bậc tu hành đạo hạnh cao dày, tinh thông Phật học, mà có khi chỉ có thêm nhiều tu sĩ giả hiệu, xu thời, ăn bám. Phật pháp không còn được tưới tẩm cho tốt đẹp thêm bởi những vị chân tu, uyên bác mà sẽ chỉ tàn lụi đi vì không còn được sự kính trọng của dân chúng. Mâu thuẫn và chia rẽ nội bộ sẽ sẩy ra. Các pháp nạn xẩy ra tại Tích Lan, Trung Hoa, Tây Tạng và cả Việt Nam vào cuối đời nhà Trần dường như đã minh chứng điều ấy.

Dầu sao chăng nữa, Phật giáo, với tất cả những giáo lý thâm sâu, cao cả, huyền diệu, cũng chỉ là một hình thái sinh hoạt của xã hội, và dầu muốn dầu không, phải theo số phận nổi trôi của dân tộc đất nước. Ðịnh mệnh một nước phần lớn tùy thuộc vào giai cấp lãnh đạo, thành phần trí thức, những người định đoạt không khí sinh hoạt và hướng đi của dân tộc. Như ta đã thấy, Phật giáo, vì bản chất không thể và cũng không nên trực tiếp tham gia chính sự, mà chỉ có thể ảnh hưởng vào chính sự, thì số phận và tương lai đạo Phật tùy thuộc rất nhiều vào nhà nước. Liên hệ đó không phải là một mối tương giao một chiều. Ðiều đó còn có nghĩa là khi những giáo lý của nhà Phật, những đạo đức (ethics) và luân thường (morals) của tôn giáo này, được giảng dậy sâu xa rộng rãi trong mọi tầng lớp dân chúng, bởi những vị cao tăng tài ba học rộng, đạo cao hạnh cả, thấm nhuần đến cả các nhà trí thức, các bậc lãnh đạo, thì tương lai và số phận của đạo Phật sẽ rất tốt đẹp. Ðiều này đã được thấy rõ trong nhiều thời đại của Phật giáo tại các nước như Ấn độ, Tích Lan, Nhật Bản. Bàn về sự thịnh suy của Phật giáo, người ta lại nhớ lại lời Phật dậy: Chỉ có mình mới có thể cứu (giải thoát) được mình. Ta thấy rõ, điều này chỉ có thể xẩy ra khi tăng đoàn có nhiều vị chân tu, tài cao học rộng, đạo cao hạnh cả. Tồn vong Tăng đoàn là yếu tố nòng cốt của sự của Phật giáo vậy. Nếu đối với người Phật tử, thứ tự quan trọng của tam quy là Phật, Pháp, và Tăng, thì đối với giáo hội, trong ba Bảo (chữ Bảo cũng có nghĩa là bảo vệ) Tăng Bảo có lẽ phải có một địa vị quan trọng hàng đầu.

Bây giờ chúng ta hãy thử nhìn vào thế giới Tây phương (Âu Châu, Bắc Mỹ và Nam Mỹ) xem Phật giáo có thể có một vai trò gì trong tương lai.

Như ta đã thấy Tây phương đã biết đến Phật giáo từ nhiều thế kỷ trước nhưng có một cái nhìn rất sai lầm qua lăng kính của chủ nghĩa thực dân và Cơ đốc giáo của họ. Phải sang đến thế kỷ thứ 20, nhất là kể từ 1950, khi đức Dalai Lama thứ 14 cùng cả ngàn tăng chúng chạy sang Ấn độ, thì Tây phương mới hiểu rõ Phật giáo nhờ nỗ lực hoằng pháp của các bậc chân tu Á châu. Nhiều trung tâm Phật giáo đã được thành lập như:

- Soto Zen Center, Pháp 1967, thiền sư Taisen Deshimaru

- Samye Ling, Scottland 1968, Choyam Trumpa Rimpoché

- Dzogchen Choling, 1973 London, Sogyal Rimpoché

- Kagyu Ling, Dordogne 1975, Khyentsé Rimpoché

- Kagyu Ling, Bourgogne 1976, Kalú Rimpoché

- Nichiren Peace Pagoda, London 1980, Nichidatsu Fuji

- Làng Hồng, Bordeaux 1982, Thích Nhất Hạnh

Ðến nay thì Phật giáo đã trở thành một tôn giáo, hay ít ra cho đến bây giờ, một hệ thống tâm linh học, triết học siêu hình nghiêm minh, đứng đắn để cho các học giả thức thời phải để tâm nghiên cứu, vì nó đã hấp dẫn được một số khá đông tín đồ. Tại sao vậy? Tại sao Tây phương, nằm trong một thành trì kiên cố của một nền văn minh Du Ðà Cơ Ðốc (Judea Christian) dựa trên một hệ thống triết học Cổ La Hy, có thể gọi là đỉnh cao trí tuệ loài người, với những hiền triết thánh nhân (wise men) như Socrates, Aristotle, Plato, Spinoza, với hai tôn giáo Cơ Ðốc và Islam (Hồi giáo) đã từng lan tràn khắp thế giới, cộng thêm một nền Khoa Học khổng lồ mình đồng da sắt tiến nhanh vượt bực, mà lại có những khe kẽ cho một tôn giáo như Phật giáo xâm nhập vào?

Có người nghĩ rằng(6), đã từ ba trăm năm nay, triết học Tây phương đã từ bỏ thiên chức cội nguồn là tìm tới Hiểu Biết Khôn Ngoan (source of wisdom) cho con người, mà đã chỉ chú tâm vào Kiến Thức (knowledge) mà thôi. Khoa học, con đẻ của Kiến Thức, trưởng thành rất nhanh đã lấn át cả Triết học. Thành ra mục tiêu đi tìm kiếm hạnh phúc cho con người như tự do, công bằng, bác ái, an lạc cho tâm hồn của Triết học đã bị quên lãng. Nói cách khác đúng hơn, là vai trò này của Triết học đã bị một ngành của Khoa học soán đoạt: đó là ngành Chính trị và Xã hội học. Ngành này trong thế kỷ vừa qua đã lại đẻ ra hai quái thai chết yểu: chủ nghĩa Phát Xít Quốc Xã và chủ nghĩa Mác Xít Không Tưởng. Lại trong khi ấy, tôn giáo Tây phương (Cơ Ðốc và Islam) cũng đang bị khủng hoảng dữ dội. Căn bệnh trầm kha của tôn giáo độc thần này là sự mâu thuẫn triết học, rất khó giải thích, giữa một đằng là một Thượng Ðế Chúa Tể (hay Chúa, God) toàn thiện, toàn mỹ, toàn năng và đằng kia là sự hiện hữu của Tội Lỗi Ma Quỷ xấu xa (sin, evil, Satan). Chúa đã toàn thiện, toàn năng và tạo ra muôn loài trong thế giới này thì sao lại còn có Tội Lỗi Ma Quỷ ? Hai điều này loại trừ lẫn nhau (mutually exclusive), có cái này thì không có cái kia, không thể cả hai cùng có được. Ngoài ra, Khoa học mỗi ngày lới một lánh xa Tôn giáo vì nhiều khám phá khoa học đi ngược với một số tín lý giáo điều của Tôn giáo. Nỗi khổ tâm khó chịu nhất của Tôn giáo là mâu thuẫn không dung hòa được giữa thuyết Tiến Hóa (Darwinism) và thuyết Sáng Tạo (Creationism), giữa Vật Lý học và Sách Sáng Thế Ký. Thái độ bây giờ của các nhà khoa học đối với tôn giáo là kính nhi viễn chi(7). Thêm vào đó, quá khứ nặng nề nhiều tội ác của Tôn giáo cũng đã gây ra nhiều mặc cảm tội lỗi, lòng hoài nghi đối với sự hiểu biết khôn ngoan (wisdom) và vai trò chỉ đạo (guidance) của giáo hội, cho tín đồ Tây phương. Tất cả điều đó đã gây nên một khoảng trống không (vacuum) và Phật giáo đã tự nhiên điền vào khoảng trống không đó, như một nhà khoa học gia Tây phương đã nói (“La Nature a horreur du vide” - Lavoisier).

Sự gặp gỡ giữa Phật giáo và văn minh Tây phương sẽ ra sao, Phật giáo sẽ có thể đóng góp gì vào nền văn minh Tây Phương? Tây phương đã càng ngày càng lưu tâm đến Phật giáo không phải chỉ vì cái định luật vạn vật hấp dẫn (gravity) nói trên, mà là vì đã thấy giá trị thực chất của tôn giáo này.

Người Tây phương đã thấy tôn giáo này, tự nó không phải là một đối thủ muốn tranh dành ảnh hưởng với, không phải là mối đe dọa cho, bất kỳ một tôn giáo nào khác. Ðức Dalai Lama đã nói: “Tôi đến Tây phương không phải để kiếm thêm một hai tín đồ Phật giáo, mà chỉ để chia sẻ kinh nghiệm về sự hiểu biết khôn ngoan (wisdom) mà đức Phật đã tìm thấy từ cả ngàn năm nay cho những ai muốn biết”(8) . Ngoài ra, thế giới bây giờ đã có một hiểu biết đúng đắn hơn về tôn giáo này, khác với cả ngàn năm trước đây. Bởi vậy, tuy có thể vẫn có nhiều người không đồng ý với giáo lý nhà Phật, hay hiểu sai tôn giáo này, như một vị giáo chủ đã viết trong một thông điệp cho tín đồ, nổi tiếng gần đây, Phật giáo chắc chắn sẽ không thể bị cho là một mê tín thờ thần tượng, ma quỷ như trước, để bị tận diệt như đã xẩy ra tại Ấn độ, Tích Lan, Nam Dương ngày trước. Phật giáo sẽ có cơ tồn tại.

Người Tây phương cũng đã thấy Phật giáo cũng không đi ngược với Khoa Học - bây giờ là nền tảng chính yếu của văn minh Tây phương - trong sứ mệnh tối hậu là đi tìm Chân Lý Tuyệt Ðối (the Absolute Truth). Ngược lại, tuy không đi cùng đường, cũng không khởi hành cùng thời điểm, Phật giáo và Khoa học đã thấy có nhiều điều tâm đắc rất gần nhau (thí dụ tính Không của vạn pháp và Vật Lý Quantum). Hơn nữa Khoa học đã thấy Phật giáo đi trên một con đường của sứ mệnh đi tìm Chân Lý, rất cần thiết cho hạnh phúc nhân loại, mà chính mình (Khoa học) không làm được. Ðó là con đường khảo sát tâm linh - còn gọi là cái Tâm - bằng Quán Tưởng (contemplation of the consciousness) để tìm ra Chân lý Tuyệt đối cũng gọi là Chân Như (the Truth). Quán tưởng để thấy được tính Không (emptiness) của vạn pháp, tính Vô Ngã của các tướng (manifestation). Khi thấy được mọi tướng đều là không, nhìn thấy tính vô ngã của các tướng là đã diệt sạch mọi đau khổ, phiền não, là đã đạt đến Niết Bàn(9), hay là một hạnh phúc vô biên cho con người. Sự Thật này đã được nhiều vị cao tăng (A La Hán, Bồ Tát) chứng nghiệm bằng thực nghiệm (empirical) và không thể chứng minh (prove, demonstrate) bằng thí nghiệm (experiments) khoa học được. Những ngành chuyên khoa của Khoa Học như Tâm Lý học (psychology), Phân Tâm học (psychoanalysis) rồi Thần Kinh học (neurology) không chứng minh được mà cũng không phản chứng minh để bác bỏ được những chứng nghiệm ấy. Lãnh vực khảo sát tâm linh (consciousness), cho đến nay, không phải là môi trường hoạt động của Khoa Học. Bởi vậy Phật giáo có thể giúp nền Triết học Tây phương trong lãnh vực ấy để cùng với Khoa Học - con đẻ của Triết học - tiến thêm trên đường sứ mệnh tìm Chân Lý đem lại hạnh phúc cho nhân loại. Sau nữa, những đạo lý (ethics, morals) của nhà Phật, hệ luận cuả giáo lý dựa trên Từ bi, Hỷ xä, Khiêm cung, Bao dung, chắc chắn sẽ làm cho con người Tây phương nói riêng và xã hội Tây phương, nói chung, trở nên tốt đẹp, an bình hơn.

Ðến đây, ta có thể kết luận với một nhận định không quá lạc quan cho tôn giáo này. Phật giáo, một Tôn giáo hay một hệ thống Siêu Hình học tùy nhãn quan mỗi người - điều này thực ra không quan trọng - sẽ là một yếu tố, một lực lượng quan trọng cho nền văn minh Tây phương. Phật giáo sẽ không còn có thể bị tiêu diệt. Ngược lại, Phật giáo sẽ cùng với Khoa học, song song, không hội tụ mà cũng không phân kỳ, cùng đi trên sứ mệnh đi tìm Chân Lý, hầu đem tới Hạnh Phúc cho Nhân Loại ./.

Đào Viên

[Source: http://daovien.wordpress.com/2009/03/ - 3/2009]


(1) Tại Pháp, theo một thống kê gần đây, với một số tín đồ lên tới 5 triệu người, Phật giáo đã đứng hàng thứ ba, chỉ sau Cơ Ðốc giáo La Mã và Hồi giáo mà thôi; hơn Cơ Ðốc Tin Lành và Do Thái giáo, điều mà cách đây nửa thế kỷ, không ai ngờ tới.

(2) Guillaume de Rubruck, giáo sĩ Jesuite, người Pháp

(3) Nguyễn Lang ( Việt Nam Phật Giáo Sử Luận)

(4) Hoàng Xuân Hãn (Lý Thường Kiệt)

(5) Nguyễn Văn Trung (Chủ Ðích Nam Phong)

(6) Jean François Revel (Le Moine et le Philosophe).

(7) Reeves, De Rosnay, Coppens & Simonnet (Origines) và Stephen Hawkins (A Brief History of Time)

(8) Matthieu Ricard (Le Moine et le Philosophe)

(9) Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng. Nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như Lai (kinh Kim Cương, Gươm Báu Cắt Ðứt Phiền Não)