31.3.2008 http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=12743&rb=0306
James Underdown
Sự tiến hóa của tư tưởng
Trần Tiên Long dịch
Tất cả các chân lý lớn đều bắt đầu như những lời báng bổ. — George Bernard Shaw
Không phải điều chúng ta không biết sẽ tác hại, mà tác hại chính là điều chúng ta tưởng đã biết nhưng thực ra chúng ta không biết. — Will Rogers
Trong hàng triệu người vô tín ngưỡng ngoài kia, nhiều người có vẻ đang rất thất vọng về tốc độ của sự tiến hoá tư tưởng gần đây. (Bằng “sự tiến hoá của tư tưởng”, tôi muốn nói về sự chuyển dịch chậm chạp, lâu dài từ niềm tin vào các thần thoại và ma thuật tới việc sử dụng khoa học và lý trí.) Chúng ta đang chứng kiến những ứng cử viên chính trị lao vào những cuộc tranh đua khó khăn xem ai có thể đến nhà thờ trước tiên, và chúng ta nghe những nhân vật của công chúng không ngớt cho rằng những công dân có tín ngưỡng thảy đều ít nhiều lương thiện hơn người vô thần, người bất khả tri, hoặc người nhân bản chủ nghĩa thế tục. Có các thiên thần chiếu trên tivi, có ma quỉ trong xi-nê, và có dòng chữ “Chúng ta tin tưởng nơi Chúa” (“In God We Trust”) [1] đang làm xấu xí đồng tiền của chúng ta. Chừng nào thì chúng ta, trong tư cách một loài, sẽ được cấp chứng chỉ đã vượt qua những điều này? Chúng ta hãy bước lùi lại và nhìn xem có phải sự tiến hoá của tư tưởng đang thực sự lê lết một cách nặng nề và chậm chạp, hay chỉ là được cảm nhận như vậy thôi. Hai ngàn năm trước, kiến thức của nhân loại về vũ trụ là rất hạn chế. Chúng ta, những con người, nói chung không mạo hiểm dời quá xa khỏi nơi trú ngụ; chúng ta đã không hiểu thời tiết, bệnh tật hoặc động đất đến từ đâu, và phần đông trong chúng ta bị phân chia rõ rệt thành những người rất giầu (và đồng thời được ăn học) và những người rất nghèo hay nô lệ. Đây là thời đại đã cưu mang Thiên Chúa giáo. Phải cần gần một nghìn rưỡi năm và một nền văn minh khả chuyển của phương Tây để làm ra sách vở cho một số đông người có thể học hỏi (nếu họ biết đọc) về những gì vượt ra ngoài vùng cận kề chung quanh họ. Sau khi xài mười lăm thế kỷ (tính từ thời Đức Kitô, nếu quả Ngài từng hiện hữu) để đi từ chỗ kéo những chiếc xe tay tới chỗ kéo những chiếc xe tinh xảo hơn, chúng ta đã phải cần đến hai thế kỷ nữa để khởi sự đặt nền móng cho khoa học và công nghệ hiện đại. Trong thời kỳ Khai Sáng này, chúng ta đã bắt đầu khảo cứu về thế giới vật lý và các bầu trời chính là nhằm am hiểu về chúng. Khoa học đã cất cánh vào lúc mà tôn giáo đóng cọc khoanh vùng và dựng rào ngăn. Khi khoa học và kỹ nghệ đã đưa cuộc Cách mạng Công nghiệp đến chỗ có thể bùng nổ và giai cấp trung lưu xuất hiện thì giáo dục, sách vở và các phương tiện để tư duy độc lập cuối cùng đã – lần đầu tiên trong lịch sử – bắt đầu men đến ngưỡng cửa của quảng đại quần chúng. Hãy nhớ rằng nền giáo dục công, miễn phí và phổ cập mới chỉ đồng hành cùng nhân loại từ chưa đầy hai trăm năm nay. Hãy nghĩ về điều đó. Phần đông nhân loại mới chỉ thực sự truy cập các công cụ – đừng bao giờ bận tâm về sở thích – nhằm truy vấn những huyền thoại cổ xưa và tư duy trung cổ trong hai trăm năm vô tích sự. (Nhiều người hiện còn chưa biết đến.) Hai trăm năm đó chỉ bằng mười ba phần vạn chiều dài của lịch sử nhân loại (nếu lấy lịch sử hình thành loài người hiện đại là 150 nghìn năm). Nếu không tìm đến kiến thức qua sách vở và giáo dục, con người khó lòng được kỳ vọng biết thắc mắc về các niềm tin của tổ tiên họ. Ngay cả ngày nay, ý niệm về các tín ngưỡng cũ xưa, y thuật cổ truyền và những bài học lâu đời đều bao hàm một hiểu biết sâu hơn về cuộc sống và thế giới. Thế giới hiện đại có được những tri thức đó nhanh chóng hơn nhiều so với thời Giê-su hoặc thời Darwin. Hai trăm năm về trước, mấy ai đã có kiến thức và học vấn để thách thức câu chuyện [về cách mà thế giới được] sáng tạo trong kinh Sáng Thế ký? Giáo hội nào đã từng có lúc cảm thấy bức bách phải soạn thảo câu trả lời hợp lý cho một thách thức như vậy? Đã có bao nhiêu lời yêu cầu các nhà thờ, vào đầu thế kỷ này, phải đưa ra những lập luận hợp lý hoặc khoa học để hậu thuẫn các niềm tin về Con thuyền Noah, sự Rẽ nước Biển Đỏ hoặc tấm Vải liệm Turin? Trong nhiều thế kỷ, quý vị tin vào những gì mà giáo hội truyền giảng hoặc là quý vị bị xa lánh (bị rút phép thông công? bị hành quyết?). Thật nguy hiểm khi thách thức các giáo điều. Điều này vẫn còn là nguy hiểm ở nhiều nơi. (Trong quá khứ,) các nhà thờ đã không tham gia vào bất cứ cuộc tranh luận nghiêm chỉnh nào với những người vô tín ngưỡng bởi họ cảm thấy không cần thiết. Truyền thống thách thức công khai tôn giáo và sự mê tín là rất mới mẻ. Vậy mà ngày nay đã có tranh luận. Mặc dầu các môn đồ của thuyết Sáng tạo đang ở giữa chúng ta, phần đông những người hiện đại muốn tiêu dao một nghị đàm nghiêm túc về Adam và Eve, cũng như một thảo luận về yêu tinh hoặc phù thuỷ – những niềm tin phổ biến một thời. Trước Darwin một thế kỷ rưỡi, ít nhà khoa học nào có nổi một tư tưởng về cách mà sự sống đã tiến hoá trên hành tinh này. Vậy làm sao có thể kỳ vọng người bình thường có thể biện bác lại Sáng Thế ký? Ngày nay, không một nhà sinh học, động vật học, địa chất học, v.v... có trình độ nào lại chối bỏ thuyết tiến hoá. Đó là sự tiến bộ, một sự tiến bộ nhanh chóng. Ngày nay, các tôn giáo đang bấu víu vào (ít nhất là ngôn ngữ của) khoa học để hậu thuẫn cho mình. Viện Khoa học Sáng tạo và Viện Vải liệm Turin đều là những thí dụ về những nỗ lực tôn giáo nhằm ứng phó với khối người ngày càng có học thức hơn. Giáo hội Công giáo đã xin lỗi Galileo – đã chết từ lâu – về tư tưởng nhật tâm của ông, và thừa nhận có cái gì đó hữu lý trong học thuyết tiến hoá. Lần đầu tiên trong lịch sử, tôn giáo đang cảm thấy sự cần thiết phải dùng khoa học và lý trí để hỗ trợ cho những quan điểm của nó. Bộ mặt của tín ngưỡng cũng đang thay đổi. Nhiều người có tín ngưỡng không còn tin có địa ngục (hay ma quỉ) nữa. Người Công giáo không còn tin có Limbo [2] hoặc kiêng ăn thịt vào các Thứ Sáu, và (nhiều người) tự quyết định lấy cho mình những chọn lựa về đúng và sai (tỷ như phá thai, ngừa thai hay tính dục trước hôn nhân) một cách độc lập với giáo lý của nhà chung. Năm mươi năm trước, tính cá nhân này không được biết tới, hoặc được giữ trong im lặng. Ngày nay, các tôn giáo lớn đang mất vô số tín đồ chỉ bởi vì mọi người không còn bị thuyết phục bởi những giáo lý cũ nữa. Đó cũng là một sự tiến bộ. Người ta đang sống đời sống khoa học hàng ngày. Chúng ta có thể không [cần] hiểu vì sao xe hơi chạy, vi tính hoạt động hoặc điện thoại di động réo chuông nhưng những phương tiện này vẫn làm việc, và chúng ta biết [rõ] khoa học cùng lý trí đã mang chúng đến cho chúng ta. Khoa học đem chúng ta vào không gian, chữa bệnh tật, và truyền bá một thế giới kiến thức đến nơi ở của chúng ta. Khoa học dự báo thời tiết, cấp năng lượng cho lò sưởi, và giúp chúng ta sống thọ hơn tổ tiên của chúng ta. Khi mạng sống lâm nguy, các tín đồ sùng đạo chạy đến bệnh viện – chứ không chạy đến nhà thờ – nếu họ còn muốn tiếp tục sống. Ít nhất thì khoa học đang xua tan ít nhiều nỗi sợ mà tôn giáo đã kiếm cách chiêu tập từ thủa ban đầu. Xu thế này đang tiếp tục. Tôi chỉ biết rất rõ rằng quá trình này quả là chậm chạp, nhưng trong bối cảnh của lịch sử, có vẻ như những lỗ thủng của con tàu thánh thiện Tôn Giáo đang trở nên ngày một khó kiểm soát hơn, trong khi khoa học và lý trí đang chèo chống rất có phương pháp và không nao núng vào miền Chưa Biết để hoá giải các thần thoại. Hãy kiên nhẫn, hỡi các thuỷ thủ, hãy kiên nhẫn! Tác giả James Underdown là giám đốc Trung tâm Thẩm sát phía Tây (Center for Inquiry West) ở Los Angeles. Bản tiếng Việt © 2008 talawas
[1]Câu châm ngôn được in trên các tờ bạc đô-la Mỹ. (Các chú thích đều của talawas.)[2]Limbo: một giáo điều Công giáo về nơi câu cấm linh hồn của các trẻ nhỏ chết trước khi nhận bí tích rửa tội.
Nguồn: “The Evolution of Thought” by James Underdown
bản để in Gửi bài này cho bạn bè
31 thg 3, 2008
Sự tiến hóa của tư tưởng
at
08:59
0
comments
Labels: TônGiáo/TriếtHọc
28 thg 3, 2008
Hình VN 3
http://www.flickr.com/photos/charisky/sets/72157604023348429/
http://www.flickr.com/photos/dirgni/show/with/2369740117
http://www.flickr.com/photos/qbakozak/sets/72157603760850886/show/with/2379454850/
http://www.flickr.com/photos/9036575@N06/sets/72157604149240390/show/with/2381377228/
at
16:27
0
comments
Labels: HìnhViệtNam
27 thg 3, 2008
Phật giáo và khoa học
http://www.buddhismtoday.com/index/index-viet11-khoahoc.htm
.....Vũ trụ quan Phật giáo. HT. Thích Thiện Hoa
.....Big Bang và Vũ Trụ Quan Phật Giáo. Thiền Giang
.....Những đặc tính khoa học trong Phật Giáo. Trần Chung Ngọc
.....Phật giáo và khuôn mẫu toàn ký trong khoa học. Trần Chung Ngọc
.....Phật giáo và Vũ-trụ-học. Trần Chung Ngọc
.....Phật Giáo và cuộc cách mạng khoa học. Trần Chung Ngọc
.....Câu chuyện "Big bang." Trần Chung Ngọc
.....Phật giáo trong thời đại khoa học. Trần Chung Ngọc
.....Phật giáo và khoa học. Bác sĩ Trần Xuân Ninh
.....Tôn giáo trong thời đại khoa học. HT. K. Sri Dhammananda; Diệu Hương dịch
.....Tôn Giáo và Khoa Học. Bhikkhu P.A. Payutto; Mỹ Thanh dịch
.....Con Người và Vũ Trụ. Trần Chung Ngọc
.....Phật giáo và sự tiến hoá tư tưởng nhân loại Trần Chung Ngọc
.....Học thuyết Darwin: Phật giáo và Thiên Chúa giáo A.Weeraratne; Thích Nữ Liên Hòa dịch
.....Đối Thoại Giữa Khoa Học và Phật Giáo L’infini dans la paume de la main" Bs Hồ Hữu Hưng dịch
....Tâm Linh và Khoa Học Trong Phật Pháp HT. Thích Duy Lực
....Vũ Trụ Học Phật Giáo - Rev. Tri Ratna Priya Karuna Mỹ Thanh dịch
....Ghép mặt người chết cho người sống Kiều Oanh
....“Chị Hằng” đã được 4,527 tỉ tuổi H.Y
....Thuyết tương đối của Einstein phải sửa đổi Lê Văn Cường
....Tuyên ngôn về hố đen vũ trụ và triết lý “Sắc bất dị không...” Lê Văn Cường
Khoa học khảo sát THIỀN ĐỊNH. Xem phim MONKS, IN THE LAB…
Khoa học và Phật giáo: Trước ngã tư đường Tâm Hà Lê Công Đa dịch
at
17:16
0
comments
Labels: PhậtGiáo
Hình VN cũ
http://www.flickr.com/photos/81918828@N00/sets/72157603975025559/show/with/2365972874/
http://picasaweb.google.com/teemackphoto/SocTrangVietnam#
at
00:09
0
comments
Labels: HìnhViệtNam
26 thg 3, 2008
Một người thầy
| |||||||||||||||||||||||||||||||
| | |||||||||||||||||||||||||||||||
| |||||||||||||||||||||||||||||||
at
07:50
0
comments
Labels: SuyNgẫm
24 thg 3, 2008
Trịnh Công Sơn
Tưởng nhớ ngày mất của nhạc sĩ TRỊNH CÔNG SƠN 01/04/2001
Trịnh công Sơn, người nhạc sĩ tài hoa đã để lại 1 di sản vô giá cho âm nhạc Việt Nam. Có tác giả đã ví Trịnh công Sơn là Nguyễn Du của thế kỷ 20 quả là đúng với những lời thơ bàng bạc trong tác phẩm của ông. Hơn thế nữa, ý thơ và giai điệu tuyệt vời của ông giúp người nghe cảm nhận được tình yêu tuyệt đẹp trong 1 số nhạc phẩm. Và với 1 số nhạc phẩm khác, ông cho ta cảm nhận được thân phận phù du của kiếp nhân sinh, đó là triết lý vạn pháp vô thường của nhà Phật. Nghe nhạc Trịnh công Sơn giúp ta thanh thản trong cuôc sống như khi nghe tiếng chuông chùa cao vợi, để mà tri kiến và ít nhiều xa lánh tham, sân, si.
http://www.esnips.com/web/TRINHCONGSON-MP3
http://suutap.com/trinhcongson/default.asp?baimoi=yes
http://www.diendan.org/tai-lieu/bao-cu/so-110/cakhuc-phanchien-trinhcongson/
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=12268&xb=0206
http://www.trinh-cong-son.com/tcs.html
http://www3.tuoitre.com.vn/Media/TVO.aspx#Media,7266
Đất khổ
at
16:30
0
comments
Labels: NhạcViệtNam
22 thg 3, 2008
Điệp viên hoàn hảo
http://www.youtube.com/watch?v=z4CsFea40gI&feature=related
| ||||||||||
Điệp viên hoàn hảo (kỳ 8)
Cuộc tấn công cuối cùng vào Sài Gòn sắp bắt đầu. Kết cục của chiến tranh đến nhanh hơn mọi người nghĩ. Phạm Xuân Ẩn không ngờ khi gần một triệu quân của quân đội Việt Nam cộng hòa vỡ vụn chỉ trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 4/1975. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức. "Tôi muốn ở lại đây" Tháng tư là tháng đầy lo âu đối với Phạm Xuân Ẩn, vì ông rất lo cho sự an toàn của gia đình và bạn bè mình. Ông nói: "Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình sẽ di tản sang Mỹ, nhưng tôi cứ băn khoăn không biết có nên đưa vợ con sang đó không. Tôi không nhận được một hướng dẫn, chỉ thị nào từ Hà Nội, trong khi tôi luôn bị sức ép từ phía tạp chí Time thúc giục phải quyết định sớm". Phạm Xuân Ẩn không bao giờ bỏ mặc mẹ mình ở Sài Gòn, tuy nhiên ông vẫn lo rằng có thể ông sẽ nhận được chỉ thị của Đảng phải đi di tản cùng với người Mỹ. Điều đó có nghĩa ông sẽ phải tiếp tục sứ mạng của mình tại Mỹ, mà về mặt cá nhân, ông không hề muốn. Một ngày sau khi Nguyễn Văn Thiệu di tản, vợ và bốn con của Phạm Xuân Ẩn đáp chuyến bay của Hãng truyền hình Mỹ CBS News rời Sài Gòn cùng với 39 nhân viên khác của tạp chí Time. Có một điều mà Phạm Xuân Ẩn không hề biết, đó là vào thời điểm ấy đang có một sự cân nhắc rất nghiêm túc của Quân ủy Trung ương thuộc Bộ Chính trị về việc có nên để cho ông tiếp tục công tác tình báo của mình tại Mỹ hay không. Chính đại tướng Văn Tiến Dũng cuối cùng đã quyết định nên để Phạm Xuân Ẩn ở lại Việt Nam: "Nếu Phạm Xuân Ẩn tiếp tục công tác đó, chắc chắn ông ấy sẽ thu được nhiều thông tin tình báo có giá trị cho đất nước. Tuy nhiên, sớm muộn gì ông ấy cũng bị lộ ở nước ngoài và như vậy tổn thất sẽ rất lớn". Người từng tuyển mộ Phạm Xuân Ẩn làm tình báo viên là ông Mười Hương thì tỏ ra tiếc đối với quyết định này: "Khả năng của Phạm Xuân Ẩn sẽ được phát huy tối đa nếu được tiếp tục công tác tình báo ở nước ngoài". Tôi hỏi ông Mai Chí Thọ về ý tưởng tiếp tục để Phạm Xuân Ẩn hoạt động tình báo ở nước ngoài, ông Mai Chí Thọ nói: "Về mặt nghiệp vụ mà nói, đó là một ý tưởng hay. Vỏ bọc ấy vẫn còn nguyên vẹn, ông ấy lại được người Mỹ tin cậy. Phạm Xuân Ẩn đã sẵn sàng, nhưng còn các điều kiện khác nữa. Ông ấy đã làm việc quá nhiều rồi". Tại Sài Gòn, người ta lan truyền khắp nơi tin đồn rằng khi quân giải phóng vào thành phố sẽ có một cuộc tắm máu. Phạm Xuân Ẩn sợ ở nhà vì biết đâu đạn pháo có thể rơi trúng nhà mình. Nhưng ông đã được cho biết riêng về một thực tế rằng những người cộng sản đã xác định ba nơi an toàn, đó là Đại sứ quán Pháp, Bệnh viện Grall và khách sạn Continental của Pháp. Ông quyết định tốt nhất là cùng mẹ đến ở tại khách sạn Continental. Phóng viên ảnh tạp chí Time - Life Dick Swanson vừa từ nhà anh ở Bethesda, bang Maryland (Mỹ) trở lại Sài Gòn. Đã gần trọn hai ngày đêm Swanson không được ngủ khi ông đến gặp Phạm Xuân Ẩn tại văn phòng tạp chí Time. Swanson đã hỏi Phạm Xuân Ẩn một câu mà anh đã từng muốn hỏi trong nhiều năm trước đó: "Ẩn này, chiến tranh kết thúc rồi. Chúng ta đã quen biết nhau trong chín năm rồi. Anh có thể nói cho tôi biết anh là người của phía bên kia phải không?". Phạm Xuân Ẩn đáp: "Tôi là người Việt Nam. Tôi muốn ở lại đây". Swanson hỏi: "Sắp tới, anh có vấn đề rắc rối nào với cộng sản không?". Phạm Xuân Ẩn trả lời: "Vào những thời điểm như lúc này, sự hiểm nguy có thể đến từ mọi phía". Swanson nói: "Rất tốt khi biết rằng nếu tôi bị kẹt lại ở Sài Gòn thì còn có một trong số những người bạn tốt nhất của tôi là cộng sản". Phạm Xuân Ẩn mỉm cười. Cứu người cuối cùng Bác sĩ Trần Kim Tuyến (nguyên là giám đốc sở nghiên cứu chính trị xã hội của phủ tổng thống) bị lỡ nhiều cơ hội để đi. Vợ ông và các con đã sang Singapore dưới sự bảo trợ của Đại sứ quán Anh. Trong 12 năm qua, ông Trần Kim Tuyến khi thì ở trong tù, khi thì bị quản thúc tại gia. Trần Kim Tuyến ở vị trí cao trong danh sách của CIA về những người di tản. Từ nhà riêng của mình, Trần Kim Tuyến tìm cách liên lạc với các sứ quán Anh, Mỹ, Pháp, cũng như với các bạn nhà báo, nhưng tất cả các đường điện thoại đều đã bị cắt. Cuối cùng, Trần Kim Tuyến nối được máy với khách sạn Continental. Trần Kim Tuyến tới văn phòng tạp chí Time hỏi Phạm Xuân Ẩn có đi di tản không, ông Ẩn trả lời: "Không. Tạp chí Time đã đưa vợ con tôi ra khỏi đây rồi. Giờ tôi không thể nào đi được. Mẹ tôi già quá, lại ốm nữa, bà cần có tôi bên cạnh. Tất nhiên, anh phải đi". Chuông điện thoại reo, đó là phóng viên Dan Southerland của tờ Christian Science Monitor điện thoại cho Phạm Xuân Ẩn kiểm tra về việc di tản. Trước khi ngắt lời Dan Southerland, Phạm Xuân Ẩn nói: "Dan này, chúng tôi cần anh giúp đỡ đây! Nhanh lên, xem anh có thể liên hệ với sứ quán Mỹ và bảo với họ rằng bác sĩ Trần Kim Tuyến vẫn còn đang ở đây với tôi, và họ cần phải đưa ông Trần Kim Tuyến ra khỏi đây ngay". Dan Southerland liên hệ được với sứ quán Mỹ và đã nói chuyện với trưởng trung tâm CIA là Tom Polgar. Tom Polgar dặn nếu Trần Kim Tuyến không thể đến sứ quán Mỹ được thì đến ngay số nhà 22 đường Gia Long. Đó là một căn hộ được Cơ quan viện trợ phát triển quốc tế Mỹ sử dụng. Tầng trên cùng của tòa nhà này được phó trưởng trung tâm CIA sử dụng và lúc này được dùng làm bãi đỗ cho máy bay trực thăng chở người đi di tản. Tên của Trần Kim Tuyến cũng được đưa vào danh sách tại đó. Trần Văn Đôn từng làm phó thủ tướng và bộ trưởng quốc phòng trong nội các cuối cùng của Nguyễn Văn Thiệu. Lúc Trần Văn Đôn tới được tòa đại sứ Mỹ thì tình hình ở đó lộn xộn cũng giống như khi Phạm Xuân Ẩn và Trần Kim Tuyến đến. Trần Văn Đôn được hướng dẫn đến số nhà 22 đường Gia Long, đó là cơ hội cuối cùng dành cho ông ta. Khi Trần Văn Đôn lên được đến tầng thượng của tòa nhà thì Phạm Xuân Ẩn và Trần Kim Tuyến đi xe hơi cũng vừa đến được tòa nhà. Trần Kim Tuyến đã không gặp may như Trần Văn Đôn, những người lính gác đã đóng cổng và khóa lại. Phạm Xuân Ẩn liền phanh gấp cho xe hơi dừng lại, nhảy ra quát: "Theo lệnh của đại sứ, người này phải được cho vào". Những người lính gác trả lời rằng không một ai khác nữa được phép vào trong. Trên nóc nhà, chiếc máy bay trực thăng cuối cùng chuẩn bị cất cánh. Nhưng khi cổng đang từ từ khép lại, Phạm Xuân Ẩn theo bản năng chạy lại dùng tay trái chặn cổng rồi lấy tay phải đẩy mạnh Trần Kim Tuyến với dáng người bé nhỏ chui qua cổng. Khe hở lúc đó chỉ còn khoảng chưa đầy nửa mét. Không có thời gian cho hai người nói lời tạm biệt và cảm ơn. Phạm Xuân Ẩn nói: "Chạy". Cùng lúc đó, hai hàng nước mắt bỗng lăn xuống gò má ông. Trần Kim Tuyến cũng khóc và chẳng thể nói được điều gì ngoài câu: "Tôi sẽ không bao giờ quên". Vài thập kỷ sau, Dan Southerland nhớ lại cái ngày tháng 4/1975 ấy: "Vào cái ngày cuối cùng ấy của cuộc chiến tranh, Phạm Xuân Ẩn đã giúp cứu mạng sống của một người từng ra sức chống lại những mục tiêu mà ông đang bí mật theo đuổi và phụng sự trong suốt cả cuộc đời mình. Tôi sẽ luôn luôn nhớ tới Phạm Xuân Ẩn về điều đó”. Trần Kim Tuyến sẽ không bao giờ quên những gì mà Phạm Xuân Ẩn đã làm cho mình. Sau này, Trần Kim Tuyến nói với các bạn rằng ông ta chỉ tin cậy hai người hơn bất kỳ ai khác, đó là Phạm Xuân Ẩn và Phạm Ngọc Thảo. Khi biết cả hai đều là những điệp viên cộng sản, Trần Kim Tuyến nói rằng nhìn nhận lại quá khứ, ông ta có thể nghi ngờ Phạm Ngọc Thảo, nhưng ông không thể nào tin được Phạm Xuân Ẩn đã làm việc cho cộng sản, "Phạm Xuân Ẩn không bao giờ để lại một bằng chứng nào dù là nhỏ nhất". Còn Phạm Xuân Ẩn ở lại. (Theo Tuổi Trẻ)
|
| Các tin khác: | [Trở về] |
| |
at
19:33
0
comments
Labels: TácGiảTácPhẩmVN
21 thg 3, 2008
Hình VN
Những hình Việt Nam của du khách gợi nhớ vô vàn kỷ niệm.
http://www.flickr.com/photos/the_ooi/sets/72157604239097532/show/with/2363193538/
http://www.flickr.com/photos/70425769@N00/sets/72157604166682273/show/with/2366433163/
http://www.flickr.com/photos/83371322@N00/sets/72157604166912971/
http://www.flickr.com/photos/lonewolf23/
Năm 2000 đã có vẻ xưa cũ.
http://www.flickr.com/photos/annabelsheppey/sets/72157604202136374/show/with/2352608357/
at
17:05
0
comments
Labels: HìnhViệtNam
19 thg 3, 2008
17 thg 3, 2008
Tibet The Story Of A Tragedy
http://en.wikipedia.org/wiki/Tibet
http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2y_T%E1%BA%A1ng
Lược sử Tây Tạng
Mục lục
[giấu]
* 1 Tên gọi
* 2 Địa vị pháp lý
* 3 Lịch sử
* 4 Địa lý
* 5 Kinh tế
* 6 Tuyến Đường Sắt Thanh Hải - Tây tạng
* 7 Tượng Mao Trạch Đông ở Tây tạng
* 8 Dân số
* 9 Văn hóa, tôn giáo
* 10 Liên kết ngoài
at
17:24
0
comments
Labels: ThờiSự
14 thg 3, 2008
Tác giả, Tác phẩm
http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n4n3nqnmn31n343tq83a3q3m3237nvn
Trong trang này chúng tôi gửi đến bạn đọc những trang nhà, tác giả và các tác phẩm văn học nghệ thuật mà chúng tôi cho là có giá trị nghệ thuật và nhân văn.
Các tác phẩm được trích lại từ các nguồn khác nhau theo đường dẫn (link).
Chuyển Luân
Trang Nhà
» Gia phả Việt Nam
Lịch sử Việt Nam
» Các ấn phẩm Lịch sử Việt Nam
» Hoàng Lê Nhất Thống Chí (online)
Tác giả-Tác phẩm Văn học
Nguyễn Du
» Truyện Kiều (online)
» Truyện Kiều (nghe online)
Đoàn Thị Điểm
» Chinh Phụ Ngâm bản Việt của Đoàn Thị Điểm
» Chinh Phụ Ngâm_nguyên tác Đặng Trần Côn
Xuân Diệu
» Xuân Diệu (văn xuôi)
» Trang thơ Xuân Diệu
» Trang thơ Nguyễn Bính
» Thế Lữ
» Vũ Trọng Phụng
» Nguyễn Công Hoan
» Chuyện kể năm 2000 (Bùi Ngọc Tấn)
» Hương rừng Cà Mau (Sơn Nam)
» Điệp viên hoàn hảo (Perfect Spy-Larry Berman)
» Nguyễn Ngọc Tư http://www.viet-studies.info/NNTu/index.htm (http://www.ngngtu.blogspot.com/)
Tác giả-Tác phẩm Nghệ thuật
Văn Cao
» Nghe nhạc Văn Cao (online)
Phạm Duy
» Người tình già
» Nghe nhạc Phạm Duy (online)
» Hồi ký Phạm Duy: tập I, tập II, tập III, tập IV
Trịnh Công Sơn
» Trang nhà Trịnh Công Sơn (do một fan của TCS lập)
» Bài hát Trịnh Công Sơn
» Các tập nhạc của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn
» Nhạc Trịnh Công Sơn (MP3)
» Nhạc Trịnh Công Sơn (online)
Nghệ sĩ Bạch Tuyết
» Trang nhà NS Bạch Tuyết
at
19:01
0
comments
Labels: TácGiảTácPhẩmVN
Hoàng xuân Hãn
KỶ NIỆM 100 NĂM NGÀY SINH HỌC GIẢ HOÀNG XUÂN HÃN.
(Link Số Đặc biệt Hoàng Xuân Hãn :
http://www.diendan.org/cac-so-dac-biet/so-dac-biet-hoang-xuan-han/ )
Bác Hãn lên chùa
Cao Huy Thuần
Tôi biết đạo Phật ở thời Lý trước hết là nhờ đọc quyển Lý Thường Kiệt của bác Hoàng Xuân Hãn. Ðọc sách lúc vừa lên trung học, thú thực tôi say mê những chương nói về chiến công hơn là những trang bàn về gấm hoa của đạo Phật ở thời độc lập cực thịnh này. Lớn lên, đọc lại Lý Thường Kiệt, tôi mới thầm cám ơn bác đã làm cho tôi hiểu văn hoá đi đôi với chính trị như thế nào, nuôi dưỡng dân tộc ra làm sao. Nhưng từ nhỏ cho đến lớn, qua hai lần đọc sách, cảm tưởng của tôi về bác Hãn không hề thay đổi : từ nhỏ, tôi đã loáng thoáng thấy hai phong cách nơi tác giả, phong cách của một nhà nho và phong cách của một nhà khoa học.
Lần đầu tiên tôi gặp bác Hãn là vài năm sau khi tôi qua Pháp. Lúc đó, phong trào chống đối của quần chúng ở các thành phố cần sự hỗ trợ tinh thần của trí thức ở bên ngoài, tôi với thầy Thiện Châu đến gặp bác tại nhà bác ở Paris. Ôn tồn, nhã nhặn, bác lái câu chuyện qua lĩnh vực văn hoá, và chúng tôi ra về không đạt được điều mình muốn mà bụng vẫn vui. Tôi biết bác đang đau mắt, và tự thâm tâm tôi hiểu được sự khắc khoải của một nhà nghiên cứu muốn dành trọn đôi mắt yếu cho lý tưởng của đời mình : đọc sách. Tôi cũng biết bác đã có lần lỡ bước sang ngang với thời cuộc và từ đó vĩnh viễn từ khước chính trị, vốn không phải là lĩnh vực của bác và không hợp với con người của bác. Lúc đó, tôi hiểu bác một, bây giờ tôi hiểu bác trăm lần. Ai đã mê đọc sách và viết, cuộc đời chẳng còn cái thú nào khác, và ai đã đứng trên đỉnh núi của văn hoá, thấp làm sao mây chính trị bay là đà dưới chân. Bác Hãn là nhà nho treo ấn từ quan ; bác Hãn là nhà khoa học bách niên giai lão với khoa học.
Thế rồi tôi thấy bác Hãn lên chùa. Khi chùa Trúc Lâm dựng lên, tôi đã thấy bóng bác. Rồi tôi nghe nói bác muốn để tro lại trong tháp của chùa khi khuất núi. Nhà nho lên chùa ? Ðúng là tinh tuý của văn hoá Việt Nam ! Thời trẻ, nho quỳ trước vua, trung hiếu tiết nghĩa. Bạc đầu, nho tìm cửa Phật, sắc sắc không không. Nho chưa thấy Phật lúc tuổi còn xanh vì con người trong Nho là con người xã hội ; Nho chỉ thấy mình, hiểu mình, và định nghĩa mình trong quan hệ với người khác : quan hệ họ hàng, quan hệ làng nước, quan hệ đỗ đạt, quan hệ lễ nghĩa, quân quân thần thần phụ phụ tử tử, cư xử sao cho đúng vị trí của mình đủ làm người quân tử mệt phờ râu. Khi Nho hết quay cuồng với hình bóng của mình trong con mắt của xã hội, lúc đó Nho mới giật mình nhận ra rằng mình có mối quan hệ khác nữa mà mình không hay : quan hệ của mình với mình. Nhìn ai cũng dễ, nhìn mình mới khó ; nhưng đến một lúc nào đó rồi ai cũng phải nhìn mình, kể cả tên sát nhân, và nếu nhìn giỏi thì chẳng thấy mình đâu nữa, chỉ thấy Phật.
Xuân hữu bách hoa thu hữu nguyệt
Hạ hữu lương phong đông hữu tuyết
Nhược vô nhân sự quải tâm đầu
Tiện thị nhân gian hảo thời tiết
Thấy mùa xuân có trăm hoa, thấy mùa thu có trăng. Thấy mùa hạ có gió lành, thấy mùa đông có tuyết. Này, ông nhà nho, giá như ông vứt quách đi trăm mối tơ vò lễ nghĩa cứng nhắc trong đầu thì ông sẽ thấy hiện ra cái chuyện huyền diệu trước mắt : mùa nào thời tiết cũng tốt hết. Nghĩa là ông thấy Phật.
Bác Hãn lên chùa là chuyện dĩ nhiên. Bởi vì nhà nho nào rồi cũng lên chùa. Con người trong Khổng là con người cực động. Cực động thì phải tìm đến tĩnh. Như cái vụ quay tít đến một lúc sẽ đứng yên. Nhưng đừng thấy nó đứng yên mà tưởng nó không quay. Cái vụ chỉ là cái vụ khi nó quay, và nó chỉ làm tròn nhiệm vụ của nó lúc nó đứng yên. Tận cùng của động là tĩnh, nhưng đừng tưởng trong tĩnh không có động. Nhà nho biết rõ chuyện đó cho nên bác Hãn lên chùa. Mà bác lên chùa vì bác còn là nhà khoa học. Hơn ai hết, nhà khoa học nơi bác thấy rõ mối tương quan giữa động và tĩnh, giữa xôn xao quay cuồng của muôn vàn tinh tú và sự sống bình yên kỳ lạ trên trái đất này và chắc hẳn trên ba vạn ba ngàn thế giới khác.
Bác Hãn thường lên chùa những lúc không có ai. Bác một mình đến tủ sách, tìm sách đọc, thường là kinh chữ Hán. Tất nhiên là bác đọc như một nhà nghiên cứu. Bác đọc kinh như bác so sánh văn bản : câu này, chữ này ở ấn bản này khác với câu kia, chữ kia ở ấn bản khác, rồi bác xe chỉ luồn kim thế nào mà bỗng khám phá ra nguyên tác, nguyên nghĩa. Cứ thế mà bác phát hiện : chẳng hạn tác giả Chinh Phụ Ngâm không phải là Ðoàn Thị Ðiểm mà là Phan Huy Ích ; chẳng hạn Hồ Xuân Hương có thời là người tình của Nguyễn Du. Tôi thán phục tinh thần khoa học mà bác Hãn đưa vào lĩnh vực nghiên cứu văn học, lịch sử. Óc suy luận khoa học của bác nhạy bén như mai đón gió xuân. Cùng đọc Ðăng Khoa Lục cả, nhưng mấy ai nảy ra cái ý đếm danh sách các vị tiến sĩ đầu tiên của triều Nguyễn đỗ năm 1822 để khám phá một chi tiết bất thường : tổng số các vị tân khoa không giống với con số ghi trong quyển sử. Thiếu một vị ! Tiến sĩ đầu triều chứ có phải tiến sĩ giấy, tiến sĩ hữu nghị đâu ! Thiếu ai vậy ? Từ nghi vấn đó, bác tra cứu sử liệu để tìm cho kỳ được vị tiến sĩ bị xoá tên trong danh sách. Bác tìm ra, và chờ đến khi hoà thượng Minh Châu qua Pháp dự lễ Vu Lan năm ngoái mới kể giữa buổi lễ tuyên dương chữ hiếu trong đạo Phật. Ông Nghè bị đục tên là cụ Ðinh Văn Phát, đỗ tiến sĩ năm 22 tuổi, từ quan để vào Hà Tiên nuôi cha bị đày ở đấy. Cụ Ðinh là tổ bốn đời của hoà thượng.
Tôi nhìn bác Hãn đọc sách một mình, lặng lẽ, trong chùa. Bác đọc như một nhà khoa học ; bác đọc như một nhà nho. Bác đã đọc như vậy, trong tinh thần như vậy, khi viết về đạo Phật ở thời Lý. Bác đọc từng tấm bia ở Thanh Hoá trong thời gian tránh máy bay Ðồng Minh oanh tạc Hà Nội, và bác tìm được những tấm bia ghi công của Lý Thường Kiệt đối với các chùa. Chưa bao giờ bác nói bác là Phật tử. Mà cũng chẳng ai đặt vấn đề Phật tử với ai. Bác cứ là nhà nho. Bác cứ là nhà khoa học. Cứ như thế bác viết về đạo Phật và người Việt Nam cám ơn bác. Bởi vì cứ lấy con mắt khoa học mà nhìn văn hoá, nhìn dân tộc, thì sẽ thấy đạo Phật. Cứ như thế, bác Hãn lên chùa. Bác lên chùa nhiều hơn tất cả mọi người, buổi lễ nào cũng có bác. Bác nói : bác giữ "gốc nhà". Cứ giữ gốc nhà thì cửa chùa mở ra trong lòng. Ðố bác tìm trong gốc đó đâu là Phật đâu là nho. Rồi từ từ đố bác tìm trong bác đâu là nho đâu là Phật. Mùa xuân năm bác tám mươi ba tuổi, trong một bài thơ đề tặng chùa Trúc Lâm, bác nói : giữa chốn phồn hoa, mỗi lần bác lên chùa là cứ có cảm tưởng đã gội sạch tham sân si. Thế là bác đã tu hơn mọi người rồi, tu thiền hẳn hoi chứ không phải chỉ tu thân với đức Khổng.
Dạo sau này, bác đi đứng khó khăn, nhưng bác vẫn chống gậy lên chùa, đọc sách. Bác góp phần lớn vào những sinh hoạt của chùa, trở thành một chỗ tựa tinh thần và văn hoá của chùa : Chúng tôi nhiều lần tổ chức ăn cơm chay với bác tại chùa để nghe bác kể chuyện. Tôi chưa thấy ai có bộ óc minh mẫn như bác, có trí nhớ đại siêu việt như vậy. Chuyện lớn, chuyện nhỏ, chuyện từ đời Lê, đời Lý, chuyện từ Hà Nội, Nghệ An, chuyện trong triều đình, chuyện giữa dân gian, bác kể từng chi tiết ngày tháng, tên từng người, từng trang sách, từng địa danh, từng nhân chứng. Bác bưng chén cơm, tay bác run, bác cầm đũa gắp món ăn, đôi đũa run trong lòng bàn tay, bác đặt chén cơm xuống, kể tiếp chuyện, quên chén cơm ; tôi gắp món ăn đặt vào chén cơm của bác, giục bác ăn, bác bưng chén cơm lên miệng rồi run run đặt chén cơm xuống bàn, kể chuyện tiếp, quên ăn. Cả bữa ăn, bác ăn chưa hết nửa chén, người quân tử ăn chẳng cầu no, thực bất cầu bão. Nhưng chúng tôi thì vừa no cơm, vừa no câu chuyện của bác. Dần dà, tôi thấy bác không còn là điểm tựa của chùa, mà chính chùa là điểm tựa của bác. Như lịch sử đã dựa lưng vào chùa mà đứng thẳng lên từ thời Lý Thường Kiệt, bác dựa lưng vào chùa với chúng tôi để làm người Việt Nam giữa chốn tha hương, để làm người Việt Nam với hàng chục triệu người Việt Nam trên đất nước. Dân tộc đã dựa lưng vào chùa như vậy đến nỗi lưng nhẵn như đá. Thời Ngô Ðình Diệm kiểm tra Phật tử, tôi nói đùa : muốn biết ai là Phật tử chỉ cần vạch áo cho người xem lưng, lưng ai có da và có xương sống thì người đó đích thị là Phật tử. Bây giờ cho tôi nói đùa thêm : người nào lúc thiếu thời có da trơn lưng nhẵn thì người đó có tổ tiên đã dựa lưng vào chùa.
Bác Hãn lên chùa, bác Hãn đọc sách. Tay bác run run lật từng quyển kinh. Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức diệc phục như thị. Nắng buổi chiều dọi lên trang sách. Bóng chiều của cuộc đời đè nặng trên vai bác như tay bác đè nặng trên chiếc gậy. Trời mới mưa xong, một chiếc cầu vồng rực rỡ mọc qua cửa sổ của chùa. Nhìn cầu vồng, đố ai biết đâu là sắc đâu là không, đố ai vạch được biên giới giữa màu lục với màu vàng, giữa màu hồng với màu tím. Màu này tan lẫn trong màu kia, bảo đó là vàng cũng không hẳn, bảo đó không phải là vàng cũng không xong, trong màu vàng đã không còn màu vàng nhưng vẫn còn màu vàng, nó đã là không rồi nhưng nó vẫn có đấy. Ba giờ sáng, tiểu dậy tụng kinh, đố tiểu biết đâu là biên giới của đêm, đâu là biên giới của ngày, đâu là bắt đầu ngày, đâu là chấm dứt đêm. Trong đêm bắt đầu không, đã lãng vãng ngày bắt đầu có, nhưng ngày chưa có bởi vì đêm cũng chưa không. Mà đâu có cần phải nhìn trời đất lúc ba giờ sáng ! Giữa trưa đúng ngọ, đố tiểu dám nói chỉ có ngày mà không có đêm. Không có đêm, làm sao tiểu mới loay hoay lặt rau trong bếp đã thấy tới giờ tụng kinh buổi chiều ? Hỏi tiểu : tiểu có hay không ? chắc tiểu sẽ bảo là có, bởi vì tiểu đang thở, đang lặt rau, đang tụng kinh. Nhưng chắc chắn tiểu đang là không, tiểu đang vừa có vừa không, đang là không trong có. Bác Hãn ngồi đọc sách, vẫn là bác Hãn đấy mà đã không phải là bác Hãn rồi. Tôi nhìn bác run run lật từng trang kinh và tôi cũng chẳng thấy tôi còn là tôi. Cái lẽ không có có không đó khiến bác tựa lưng vào chùa. Cứ tựa lưng vào chùa thì có thể thách đố với tất cả mọi người : đố ai nói được một sự việc gì trên đời này mà chẳng vừa có lại vừa không. Bất cứ sự việc gì, bất cứ ý tưởng gì, dù ở trong đầu óc, dù ở trong lời nói, không thể ở trong trạng thái nào khác hơn là vừa không vừa có. Biết có, biết không, nên lịch sử có Lý Thường Kiệt. Có vua Trần. Lý Thường Kiệt nói : Có ! Nam quốc sơn hà nam đế cư. Cho nên chiến công hiển hách. Nhưng vị vua nào không biết làm thái thượng hoàng, không học được chữ không ở giữa chữ có, chưa hẳn là minh quân thịnh trị.
Tôi vào bệnh viện ngay khi nghe tin bác Hãn vừa mất. Nhìn bác nằm yên nhắm mắt, tôi thương bác mà nghĩ rằng chắc chắn bác không đi tìm ông Pasteur, ông Einstein, hoặc ông bác học, khoa học gia nào khác ; chắc chắn bác cũng không bay qua Trung Quốc, tìm đến Khúc Phụ để chầu ông Khổng Tử. Bác đi đâu? Thì bác đã nói ngay từ khi còn sống, khi bác viết câu đối ghi trước tháp chùa Trúc Lâm:
Thể gửi xứ người nương cửa Phật
Hồn về đất Việt viếng quê nhà
Bác đi tìm ông Lý Thường Kiệt. Nhưng ông Lý Thường Kiệt thì có ai khác đâu là hồn của Phật nơi tinh tuý Việt Nam?
1996, bản sửa 2006
Nguồn: www.diendan.org
at
18:40
0
comments
Labels: TácGiảTácPhẩmVN
13 thg 3, 2008
TITANIC My Heart Will Go On
Every night in my dreams
I see you, I feel you,
T... (more)
Added: April 18, 2007
Every night in my dreams
I see you, I feel you,
That is how I know you go on
Far across the distance
And spaces between us
You have come to show you go on
Near, far, wherever you are
I believe that the heart does go on
Once more you open the door
And youre here in my heart
And my heart will go on and on
Love can touch us one time
And last for a lifetime
And never let go till were gone
Love was when I loved you
One true time I hold to
In my life well always go on
Near, far, wherever you are
I believe that the heart does go on
Once more you open the door
And youre here in my heart
And my heart will go on and on
Youre here, theres nothing I fear,
And I know that my heart will go on
Well stay forever this way
You are safe in my heart
And my heart will go on and on (less)
Added: April 18, 2007
at
15:58
0
comments
Labels: NhạcNgoạiQuốc
ABBA
Ban nhac Abba.
Hai trong bốn thành viên của ban nhạc Thụy Điển ABBA hôm qua tuyên bố họ sẽ không bao giờ trở lại biểu diễn, sau khi cả nhóm có dịp cùng xuất hiện một cách hiếm hoi trong lễ ra mắt phim Mamma Mia! cuối tuần trước tại Stockholm.
>> Nhóm ABBA tái xuất sau nhiều năm
| ABBA thời hoàng kim (theo chiều kim đồng hồ): Benny Andersson, Bjorn Ulvaeus, Anni-Frid Lyngstad (Frida) và Agnetha Faltskog |
at
13:55
0
comments
Labels: NhạcNgoạiQuốc, ThầnTượng
12 thg 3, 2008
ABBA - 1979 Voulez Vous
>> Nhóm ABBA tái xuất sau nhiều năm
| ABBA thời hoàng kim (theo chiều kim đồng hồ): Benny Andersson, Bjorn Ulvaeus, Anni-Frid Lyngstad (Frida) và Agnetha Faltskog |
at
16:12
0
comments
Labels: NhạcNgoạiQuốc
3 thg 3, 2008
Ôn cố tri tân
Từ việc chiếm chùa Báo Thiên xây nhà thờ Lớn tìm hiểu bộ mặt thật của 'giám mục' Purinier [26.02.2008 06:35]
Sau khi HT. Thích Trung Hậu thừa ủy nhiệm của HĐTS Giáo hội Phật giáo Việt Nam gửi thư tới Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về vụ “Tòa Khâm”, trên một số trang web Công giáo ở Hải ngoại đã có những dụng ý xuyên tạc sự thật lịch sử, cố tình đánh lận việc sụp đổ của tháp Báo Thiên vào chùa Báo Thiên, để hợp thức hóa hành vi chiếm phá chùa của “Giám mục” Purinier. Hành vi trên đã bất chấp lịch sử, bất chấp lương tâm đạo đức, lòng trắc ẩn và không hề tỏ ra hổ thẹn - một đức tính cần phải có của con người. Điều này buộc chúng tôi phải tìm hiểu bộ mặt thật và dã tâm của “Giám mục” Purinier, một trong những kẻ đã âm mưu cướp phá chùa Báo Thiên và những âm mưu thâm độc của một số giáo sĩ thừa sai khác. Những tư liệu lịch sử nói về sự sụp đổ của tháp Báo Thiên trong Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, trong Tang thương ngẫu lục của Nguyễn Án và Phạm Đình Hổ đã được nhiều bài viết của cả hai phía tranh luận chỉ ra. Tuy nhiên, điều đáng nói chính một số trang web Công giáo vẫn cố tình tỏ ra nhầm lẫn tháp Báo Thiên là chùa Báo Thiên, do vậy mới cho rằng chùa Báo Thiên đã không còn mà chỉ còn nền đất nên họ mới xây nhà thờ trên đó. Nhưng chính điều này đã mâu thuẫn với những phát biểu của Công sứ Bonnal mà họ đã trích dẫn, nên họ lại nói rằng ngôi chùa bỏ hoang, không có người cai quản. Có nghĩa rằng, vẫn có một ngôi chùa Báo Thiên hiện diện trước khi bị chiếm phá. Ngôi chùa đó hiện diện như thế nào? Theo lời phát biểu trong hồi ký của Công sư Bonnal là ngôi chùa đã “hư nát”: “Phá hủy ngôi chùa và chiếm lấy miếng đất, việc đó xem ra chẳng có gì dễ dàng hơn trong thời điểm chinh phục mà chúng ta đang tiến hành, nhưng bản thân tôi, đúng theo lẽ, e ngại phạm sự lạm quyền khi làm như vậy, và tôi chọn giải pháp thỉnh ý ông Tổng đốc Nguyễn Hữu Độ. Ông nầy rất có thiện cảm với vị giám mục, cũng như tôi, ông muốn làm cho ngài hài lòng; sau đây là cách thức ông gỡ mối khó khăn. Trước hết ông cho truy tìm xem còn có kẻ hậu duệ nào của người tạo dựng ngôi chùa đã qua đời trước đó hai thế kỷ không, và dĩ nhiên chẳng tìm được ai. Tiếp theo, ông chỉ thị cho các thân hào trong khu vực, được chọn, như thể tình cờ, trong các giáo dân bản xứ, để xét xem mức độ chắc chắn của ngôi chùa thế nào, và các ông nầy chẳng ngần ngại gì mà tuyên bố rằng: do hư nát, ngôi chùa khi sụp đổ có thể gây nguy hại cho những ai đi ngang qua. Vậy là, bây giờ mọi việc đều đã đúng luật lệ. Cho phá hủy ngôi chùa, sung công thửa đất vô chủ... theo tập quán Việt Nam, là những biện pháp chính đáng, không thể gây nên một sự phản đối nào. Ông Tổng đốc đã xử lý theo cách đó. Ông còn nhận trách nhiệm nhượng lại miễn phí cho nhà chung công giáo thửa đất đã sung công, và tôi đã vui lòng trao cho vị giám mục văn bản chính thức chuyển giao cho ngài quyền sở hữu trọn vẹn” (Hanoi pendant la période héroique. 1873-1888 ” trang 125, của tác giả André Masson. Librairie Orientaliste Paul Genthner. 13 rue Jacob (VIe), 1929). Những người đến thẩm định ngôi chùa “hư nát” là các “giáo dân”, và họ cho rằng ngôi chùa có thể “sụp đổ” gây nguy hiểm cho người qua lại. Điều này rất hợp với tham vọng chiếm chùa của “Giám mục” Purinier. Nhưng điều “phá hủy ngôi chùa và chiếm lấy miếng đất” lại là nỗi e ngại vì “lạm quyền” của viên Công sứ. Chính sách của thực dân và những mưu toan chính trị của các giáo sĩ không phải lúc nào cũng đồng nhất với nhau, nên nhiều khi những “nhiệt tình” xâm chiếm, cướp phá chùa chiền của các giáo sĩ còn gây đau đầu cho giới chức Pháp (xin lưu ý, có một số ý kiến cho rằng Chính quyền Pháp phần nào cho khôi phục những sinh hoạt Phật giáo, nhưng điều này không ăn nhập gì với “chính sách riêng” của các giáo sĩ, thậm chí nó còn bị chính các giáo sĩ phản đối kịch liệt) Nếu những ai đã từng đọc luận án tiến sĩ “Đạo Thiên Chúa và chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam” được bảo vệ tại Pháp của Cao Huy Thuần thì không cần phải thắc mắc nhiều về những vụ cướp phá chùa chiền một cách có hệ thống của các giáo sĩ thừa sai qua những tư liệu mật được tìm thấy trong thư khố của Bộ Ngoại giao và Bộ Hải quân của Pháp, và cũng không cần phải bình luận gì nhiều. Chúng tôi nghĩ, một số người Công giáo đang tranh luận trên các trang web gần như vẫn chưa đọc tài liệu này, nên họ không hiểu gì nhiều về những “cha”, “cố” của họ đã gây ra những tang thương gì cho dân tộc và Phật giáo. Qua vụ “Tòa Khâm”, chúng tôi mong cùng với quý vị đọc lại những thành quả nghiên cứu của Giáo sư Cao Huy Thuần (*) để thấy rõ hơn bộ mặt thật của một số giáo sĩ khét tiếng trong đó có “Giám mục” Purinier. Các tín đồ Thiên Chúa giáo cảm thấy mình mạnh bèn tấn công vào những làng phi Thiên Chúa. Sự trả đũa của họ thật quá sức dã man, như các báo cáo của các sĩ quan Pháp đã cho thấy. Sau đây là một vài vụ theo lời thuật của Harmand: “…Trong chuyến công tác, người ta cho họ đi đầu toàn thể dân Công giáo rồi chiếm và đốt một số làng của các kẻ ăn cướp hay của các nho sĩ võ trang (các sĩ quan gọi bất cứ ai chống họ là “kẻ cướp”). Họ giết 10 người, trong đó có một viên chỉ huy; các người bị thương đều bị tra tấn, bị trấn nước hay bị thiêu sống, chùa chiền bị phá hủy. Những người đó tỏ ra rất can đảm, nhưng tôi tự hứa không để bắn một phát nào nữa nếu không có tôi (bất kể những lời người ta khuyên) mục đích là để tôi đích thân chống lại các cảnh dã man đó, mà chỉ tấn công các làng chắc chắn có tội và để tránh cho các con chiên cuồng tín đó khỏi bị trả đũa khủng khiếp trong trường hợp Pháp thua trận hay thay đổi chính sách” (Harmand gửi Testard, 16-1-1874, Thư khố Bộ Pháp quốc Hải ngoại A00 (10) hộp 1). “… Chúng tôi lần lượt chiếm 4 làng, bắt 5 người chỉ huy, nhưng không phải là những người nổi tiếng, họ sẽ bị xử tử hôm nay, và giết ít nhất 50 người trang bị bằng dáo hay bằng gậy… Viên hạ sĩ và hai người mà tôi phái đến Giám mục Cézon đã trở về ngày hôm kia. Phái bộ truyền giáo đã phái họ đến một ngôi làng người lương ít nhiều theo trộm cướp, họ giết 10 người, họ kể với tôi rằng, người An Nam tra tấn rất tàn nhẫn các người bị thương, phá sập ngôi chùa trong làng, tất cả việc này, Giám mục Tây Ban Nha hết sức hài lòng…” (Harmand gửi Ganier ngày 22-12-1873, do J.Marquet và J.Norel dẫn, “L’occupation francaise au Tonkin”, tr.112) Các sĩ quan Pháp đều công nhận trách nhiệm nặng nề của các Giám mục và các kẻ truyền đạo trong các vụ trả thù man rợ này: “Không chối cãi được, một số Giám mục Pháp đã hùa với các nỗi ghen ghét, hận thù sục sôi ở nơi họ sống; họ làm hại các con chiên một cách nghiêm trọng khi đẩy những người này vào một cuộc nổi dậy chống lại chính phủ An Nam. Việc chinh phạt của Pháp chỉ là cái cớ bề ngoài, còn lý do căn bản là sự tranh chấp phe phái. Nên để ý là một số vụ nổi loạn do những kẻ tự xưng là con cháu nhà Lê đều có các viên chỉ huy là Thiên Chúa giáo… Cầm đầu các đám tín đồ Thiên Chúa đi cướp bóc, đốt phá các làng phi Thiên Chúa và triệt hạ chùa chiền thường là các linh mục hay các kẻ truyền đạo: họ bổ nhiệm các viên đội, tụ tập binh lính mà đa số, theo lời thú nhận đều là đầu trộm đuôi cướp” (Philastre gửi Dupré, 15-1-1874, Thư khố Trung ương Đông Dương, Đô đốc 13506 số 4). “Hình như đôi khi, tôi dám nói như thế này, lòng nhiệt thành tôn giáo đã hủy hoại các tư tưởng công bình, chân lý, nhân đạo, bác ái ở các nhà truyền đạo, và họ dễ dàng để mình bị lôi cuốn vào chính các lỗi lầm mà họ đã thấy rõ ở các đối phương của mình (Rheinart gửi Garnier, 14-14-1874, Thư khố Trung ương Đông Dương, Đô đốc 13506 số 4). “… Chúng tôi thấy một số lớn làng bị thiêu rụi. Khổ thay, cứ mỗi lúc, các tín đồ Thiên Chúa giáo thấy kẻ thù của họ biến mất, hoặc họ tự thấy mình mạnh hơn thì họ lại đi hành quân, trả thù không gớm tay, rồi đến phiên họ lại đốt và giết. Hầu hết họ đều có võ trang, và tôi tin rằng, chính các nhà truyền giáo cũng không ngăn cản nổi. Đó là điều đáng tiếc, vì các quan mới từ Huế ra đều nhân cớ đó mà xác nhận rằng, chính các tín đồ Thiên Chúa gây sự, chính những người này là nguyên nhân đầu tiên của mọi đau khổ. Hơn nữa, vì những con chiên có nhiều khí giới, nên họ sẵn sàng xem những con chiên là những kẻ làm loạn” (Báo cáo của Harmand ngày 24-1-1874, Thư khố Trung ương Đông Dương, Đô đốc 11689/54). “Ngay khi thấy mình được ủng hộ, các tín đồ Thiên Chúa giáo đã không ngần ngại đốt nhà, giết người, và cũng như những người này, nếu cần, họ vu cáo để biện minh cho việc tàn bạo của mình. Đó là điều họ đã làm năm vừa rồi, và chính điều này đã gây ra những vụ trả đũa mà người ta gọi một cách saimlầm là các vụ đàn áp. Nếu khi che chở họ, chúng ta nhắm mắt để họ lôi kéo, chúng ta sẽ gây ra một phản ứng dữ dội chống lại những nhà nho một cách không kém dã man, không kém tàn bạo như những vụ đàn áp bây giờ” (Rheinart gửi Dupré, Thư khố Trung ương Đông Dương, Đô đốc 13506 số 4). Sự bảo hộ của chính quyền thực dân với tín đồ Công giáo có nguy cơ bị lung lay trước chínhsách của Philastre. Nên Giám mục Purinier đã phản đối mạnh mẽ chính sách này bằng một bức thư gửi Dupré: “…Nếu Pháp rút lui hay không hành động theo tình thế đòi hỏi thì điều đó sẽ đưa đến tai họa cho tất cả con chiên và tạo nên hỗn loạn to lớn cho xứ này. Tất cả những ai hân hoan khi sứ giả Ngài đến sẽ mất lòng kính trọng nước Pháp, cảm tình của họ sẽ dễ dàng biến thành hận thù, nếu lòng tin cậy của họ đối với Pháp kết thúc đau đớn bằng nỗi thất vọng ê chề… Trong tình cảnh xáo trộn và đầy đe dọa hiện nay của xứ này, muốn bảo vệ hữu hiệu cần phải có một đạo quân khá hơn độ 8,000 binh sĩ và hai tàu chiến mới. Mục đích của đạo quân đó không phải là gây chiến mà là trừng trị những kẻ phá hoại hòa bình”. Giám mục Purinier đã uổng công khi đích thân vào Sài Gòn để bàn trực tiếp với Dpuré: “Những lần nói chuyện của tôi với Giám mục đó trước khi ông rời Sài Gòn không thay đổi lòng tin của tôi, vì thế tôi vẫn giữ nguyên các nhận xét mà tôi đã trình bày với ngài, dù vị Giám mục này đã khổ công khuyến cáo hãy bỏ đi chính nghĩa đã tạo được nước Pháp nhiều tình cảm dân chúng khi theo đuổi một đường lối mà những người khen Garnier là anh hùng phải bị kết án, những người này không biết được những khó khăn của tình thế mà viên sĩ quan khốn nạn đó đã để lại cho chúng ta” (Dupré gửi Bộ trưởng Hải quân và Thuộc địa, 30-12-1874, Thư khố Pháp quốc Hải ngoại A30 (25) hộp 13). Có hai thuyết chống đối nhau về vấn đề này: Một mặt Philastre không bao giờ nghi ngờ thiện chí của triều đình Huế và thuộc hạ của họ; mặt khác các kẻ truyền đạo và một vài người Pháp nhiễm đầy ý kiến của Giám mục Purinier đã không ngừng tố cái vai trò nước đôi khéo léo của các quan, những người đồng lõa với nhà nho. Purinier từng phản ứng: “Chỉ cần bắt hai tên đó cùng 3, 4 tên khác xử tử vì các vụ mưu sát năm 1868 là đủ để lập lại thanh bình, nhưng các quan không chịu làm, sự đồng lõa của họ thật rõ rệt. Còn các lời đãi bôi, các tuyên cáo v.v… của họ chỉ là một trò hề”. Giám mục Purinier là người có thế lực nhất và hiếu chiến nhất tại Bắc Kỳ, là cố vấn có quyền uy nhiều nhất trong chiến dịch Garnier và nhất là sau khi tên này qua đời. Các linh mục Pháp hưởng ứng sự mong ước của Dupré đã tự nguyện giúp đỡ cho đồng bào họ. Hàng ngàn tín đồ Thiên Chúa Việt Nam có các linh mục dẫn đầu, cắm cờ tam tài, gia nhập vào đoàn quân bé nhỏ của Garnier để chiến đấu bên cạnh người Pháp, cùng để cướp bóc, đốt nhà, giết người và trả thù: “Từ ngày thành lập các lũ người vẫn tin theo lời Giám mục Purinier gieo rắc sự khủng bố, cướp bóc và chết chóc trong các làng đạo, các tổng đốc các tỉnh không làm hay gần như không làm gì cả để ngăn chặn hữu hiệu những sự lộn xộn, nhất là trong tỉnh Nam Định… Giám mục Purinier biết rõ là không phải và ông cũng biết rõ ai là người mà những lời khuyên bảo tai hại của họ đã một phần gây ra các đau khổ này, ông cũng biết vai trò thiếu thận trọng và có lúc dã man của các con chiên… Cảnh rối loạn này, chính chúng ta và nhất là chính những kẻ hiện phải gánh chịu cảnh đó đã gây tạo ra” (Thư Philastre gửi Dupré, 15-1-1874, Thư khố Trung ương Đông Dương, Đô đốc 11689, số 30) “Tôi cho rằng các nỗi lo sợ của Giám mục Purinier đã được phóng đại… Tôi cho rằng chỉ còn phải sợ các xáo trộn trong dân chúng tôi. Giám mục Purinier tin là sẽ nổ ra một cuộc cách mạng. Nên biết rằng vị Giám mục này đã can dự nhiều trong các việc làm của ông Ganier, ông đã có những ý tưởng dứt khoát và muốn lật triều Nguyễn để lập lại họ Lê” (Thư Philastre gửi Dupré, 6-1-1874, Thư khố Trung ương Đông Dương, Đô đốc 11689, số 69 và 76) “Tôi tin rằng Giám mục Gauthier và Giám mục Purinier nhất là ông sau này không chịu nổi ý kiến một giải pháp hòa bình cho vấn đề: giải pháp này sẽ phá tan hy vọng của họ mong muốn thấy một chính phủ riêng biệt, chính phủ này có lẽ sẽ là một chính phủ Công giáo. Các tín đồ Công giáo lại càng phóng đại hơn nữa các ý tưởng đó và xúi giục các linh mục, các người chăn dẫn họ để đưa đến một sự đổ vỡ mới giữa hai chính phủ… Suốt ngày chúng tôi nhận tới tấp các báo cáo và các lời yêu cầu đem quân chinh phạt các tỉnh đó” (Thư Philastre gửi Dupré, 15-1-1874) “Suốt ngày tôi tiếp những người tự xin điều khiển các binh lính mà họ tụ tập thành từng toán 100, 150 người, tất cả đều được các cha xứ gửi gắm, nhưng tôi cố phản ứng không mích lòng một ai để chống lại những khuynh hướng tràn ngập của các tín đồ Thiên Chúa” (Thư Harmand gửi Garnier 16-12-1873). “Tôi vẫn cứ tiếp khách mãi: Họ nối đuôi nhau trước túp lều tôi từ 7 giờ sáng cho đến tối, tôi phải tiếp mãi những người đến khiếu nại hay xin xỏ: kẻ thì xin được giúp đỡ che chở, kẻ thì tụ tập được một số người rồi đến xin khí giới để trang bị và cấp bằng chỉ huy, sau rốt có kẻ, và đây là số đông đến xin giúp việc thư ký, công chức đủ hạng, và còn xin được bổ làm tri phủ, tri huyện. Tất cả hình như hầu hết là tín đồ Thiên Chúa và một phần ở tỉnh Ninh Bình kế cận, do các linh mục cử sang. Trong những trường hợp gay cấn này, tín đồ Thiên Chúa đã biểu lộ một sự tham lam trơ trẽn, vừa thiếu dè dặt vừa đầy ích kỷ… Họ tỏ ra rất thô thiển. Họ xem việc chúng ta đến đây như là đánh dấu cho giờ phục thù và trả đũa; về phần những nhà truyền giáo, ngay từ đầu có lẽ họ đã đưa ra những lệnh nghiêm ngặt; nhưng chắc chắn sau đó họ bị tràn ngập. Mỗi ngày tôi nhắc đến chục lần: “Thế ra các ông cho rằng chúng tôi đến đây để gây một cuộc chiến tranh tôn giáo hay sao? Chúng tôi đến đây với mục đích thuần túy thương mại. Dù các ông có là giáo là lương, là Trung Quốc cũng không phải là điều quan trọng… Tôi nói thêm, không phải mọi người Pháp đều theo đạo Thiên Chúa đâu, điều này khiến họ hết sức ngạc nhiên” (Thư Harmand gửi Testard du Cosquer, 16-1-1874). Khi triều đình Huế bị các khiếu nại của các Giám mục đè ép, muốn bắt các “làng không đạo phạm tội” bồi thường, đòi quyền hưởng thụ và sở hữu các đất đai vắng chủ, gây nên sự thù ghét của những người phi Công giáo, Rheinart viết: “Điều 9 luôn luôn đem lại cho chúng ta các khó khăn, vì rằng các con chiên đã làm bậy khi lập nên một chính đảng chính trị muốn ở ngoài pháp luật của xứ này và tự cho là độc lập. Không có nước nào vô tư cho bằng nước An Nam về vấn đề tôn giáo, và nếu các phái bộ chỉ lo giảng đạo, họ không có gì phải lo cả” (Rheinart gửi thống sứ Le Myro de Vilers, 19-8-1879, Thư khố Trung ương Đông Dương, Đô đốc 10443/8). “Giới tăng lữ Thiên Chúa An Nam thích thú ỷ dựa vào việc chúng ta ủng hộ để gây sức ép lên dân lương. Họ đã bám vào sự che chở của chúng ta bằng cách đổi đạo, dù thành thật hay không; sự kiêu hãnh công thêm vào lòng hăng hái tôn giáo thúc đẩy họ đi cù rũ người theo đạo khắp nơi… chúng ta bảo đảm tự do tôn giáo, nhưng tuyệt đối chúng ta không ham mê gì các vụ đổi đạo mau lẹ và đông đảo cả” (Thư Rheinart gửi Dupré, 28-10-1876, số 248). Suy nghĩ về việc Pháp có thể bất ngờ bị thất bại ở Bắc Kỳ, Le Myre de Vilers đã tự phê bình: “Đáng lẽ phải là những đồng minh tự nhiên của Thiên quốc, khốn thay, chúng ta lại tự xưng là những tay quán quân của đạo Thiên Chúa cùng việc tuyên truyền tôn giáo, là việc mà trong nước này, chỉ là tuyên truyền làm loạn, và đã xảy ra điều bất thường là, dù dưới hình thức chính phủ nào, nước Pháp dân chủ lại đi dạy các thuyết duy thần cho một dân tộc đã đưa nền dân chủ đến chỗ xã thôn tự trị… Vì thế chúng ta trở thành kẻ thù không những của Thiên quốc mà còn của một dân tộc chân thật vốn chỉ xem chúng ta là những bạn đồng minh…” (Thư Le Myre de Vilers gửi Bộ trưởng Hải quân, 19-1-1882, Thư khố Bộ Pháp quốc Hải ngoại, A30 (54) hộp 16). Mọi cố gắng của Giám mục Purinier đều ngăn chặn không cho chính sách Pháp bước vào con đường cai trị là tôn trọng các định chế của xứ bị trị, tôn trọng luật pháp, phong tục và nhất là tìm cách liên minh với các tôn giáo bản xứ, khuyến khích sự phát triển và dùng nó làm trung gian giữa dân bản xứ và giới chức thuộc địa. Xâm lược, thống trị, đồng hóa là 3 ý tưởng chủ chốt toát lên từ nhiều văn thư, điều trần của Giám mục Purinier. Và các văn thư này đều nhằm mục đích chứng minh cho giới chức Pháp thấy rằng, ngoài tín đồ Thiên Chúa giáo ra, tất cả đều là kẻ thù. “Trước khi nghĩ đến việc giảm quân, cần phải tiêu diệt tối đa mầm mống nổi loạn. Chinh phạt là con đường rất đúng, sẽ còn phải chi tiêu nhiều hơn nữa, nhưng phải có những hy sinh đó…” (Văn thư về vấn đề Bắc Kỳ, 3-1884, thư khố Bộ Pháp quốc Hải ngoại, A00 (30) hay N.F.541). Giám mục Purinier chủ trương rằng cuộc xâm lăng phải được tiến hành mạnh mẽ và mau lẹ. Phải đuổi theo kẻ thù và tiêu diệt trước khi nó hồi phục: “Tôi thấy đồng thời bình định Bắc Kỳ và Trung Kỳ còn dễ hơn chỉ là bình định Bắc Kỳ. Kẻ thù không có sẵn lực lượng và phương tiện to lớn lắm, sẽ bị đồng thời tấn công khắp nơi và sẽ không thể kịp tiếp viện cũng như chỉnh đốn lại, sẽ phải kiệt lực…” (Văn thư dùng để nghiên cứu một trong các giai đoạn của vấn đề Bắc Kỳ: Cuộc khởi nghĩa 13-9-1886, Thư khố Trung ương Đông Dương, Đô đốc 1178) “Theo tôi, trước hết cần có một hoạt động toàn diện, một cuộc săn đuổi thực sự. Một cuộc hành quân phối hợp gồm các toán quân nho nhỏ hỗ trợ cho nhau đồng thời tiến vào nhiều làng trong một vùng sẽ làm cho bọn cướp rối loạn… Làng nào đồng lòng với quân phiến loạn và kẻ nào thực sự bước theo phe kháng chiến, khi đã biết được chúng nhờ vào các tin tức chắc chắn, nhất định phải nghiêm trị và các tâm gương này sẽ gây nên một tác dụng tốt trong dân chúng” (Tình hình Bắc Kỳ ngày 25-1-1891, văn thư gửi Bộ trưởng Hải quân và Thuộc địa ngày 5-2-1891, thư khố Bộ Pháp quốc hải ngoại, A00 (30) hộp 2). Theo Giám mục Purinier, kẻ thù ở khắp nơi còn bạn bè thì không có ở đâu cả ngoài những người theo Thiên Chúa giáo, y đã lập nên danh sách các “thủ phạm” gồm: 1. Đầu tiên chính là triều đình Huế. Năm 1884, hai quan Nhiếp chính Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết là tác giả chính của cuộc “phiến loạn”. 2. Những quan lớn ở các tỉnh (như: Tổng đốc, Bố chánh, Án sát, Lãnh binh). 3. Phần đông quan lại dù là tại chức. 4. Tất cả các Nho sĩ. 5. Chánh tổng, Lý trưởng. 6. Các làng không Thiên Chúa giáo, bên cạnh các khu giáo dân. (Báo cáo 27-3-1884, Thư khố Trung ương Đông dương, đô đốc 11624 và bản nghiên cứu về tình hình Bắc Kỳ, 10-6-1890, thư khố Bộ Pháp quốc Hải ngoại, A00 (30) hộp 2). “Tôi xin xác định rằng, khi nào Bắc Kỳ thành Thiên Chúa giáo thì nó cũng sẽ thành một nước Pháp nhỏ, hoàn toàn giống như các đảo của Philippines đã trở thành một nước Tây Ban Nha nhỏ… Chắc chắn các nhà truyền đạo là một sức mạnh tinh thần to lớn nhất trong một thuộc dịa. Chính họ đã làm cho thuộc địa biết chân tướng nước mẹ để mến yêu… Tôi xin cả quyết rằng: Nước pháp không có bạn bè nào tốt hơn là các nhà truyền giáo và con chiên, cũng không có kẻ phụng sự nào trung thành hơn và vô vị lợi hơn. Vừa hoạt động để tôn vinh Chúa trời cứu rỗi linh hồn, tôi vẫn từng nói các nhà truyền giáo tự thấy có bổn phận làm cho tổ quốc mình được hiểu biết và mến yêu, vừa dạy con chiên kính trọng và trung thành với mẫu quốc… Sau khi đạo Thiên Chúa được thiết lập, tôi xem việc tiêu diệt chữ Nho và thay thế dần dần, ban đầu bằng tiếng An Nam, rồi bằng tiếng Pháp, như là phương tiện rất chính rtị, rất tiện lợi và rất hiệu nghiệm để lập nên tại Bắc Kỳ một nước Pháp nhỏ ở Viễn Đông” (Thư giám mục Purinier gửi Bộ trưởng Hải quân và Thuộc địa, 6-5-1887, thư khố Pháp quốc Hải ngoại A00 (30) hay N.F 541). Trong bài viết “Những bài học ứng xử cần thiết”, Trương Công Khanh cũng đã trích dẫn những cứ liệu trong Châu bản triều Nguyễn - Tư liệu Phật giáo qua các triều đại nhà Nguyễn 143 năm từ Gia Long 1802 đến Bảo Đại 1945 (Lý Kim Hoa sưu khảo, biên dịch, NXB Văn hóa Thông tin, 2003) có nêu lên những vụ việc chiếm phá chùa chiền sau: “Ngày 13 tháng Giêng, Tự Đức (1848-1883) năm thứ 31, Thương bạc tâu việc dân Nghệ An phải đem đền thờ, chùa chiền bồi thường cho dân đạo Thiên Chúa: Bọn thần Thương bạc tâu (châu điểm): 5 giờ chiều hôm qua, bọn thần đến dinh Thương bạc, một lúc thì tiếp sứ Pháp đến mời vào dinh tòa cùng nhau hỏi han. Bọn thần bảo rằng lương dân Nghệ An đã đem 18 sở đền chùa bồi thường cho giáo dân, trong đó có 10 sở đã triệt hạ rồi chỉ còn 8 sở”. (sđd, trang 450)· Ngày 11 tháng 4, Thành Thái (1889-1907) năm thứ 8, Cơ mật viện tâu việc quyền khâm sứ đòi giỡ chùa trong thành nội để cất nhà thờ đạo: Bọn thần Cơ mật viện tâu (châu điểm): “Ngày 4 tháng này tiếp quyền khâm sứ đại thần Mô Li Ê thương nghị (…) Lại thương nghị nói rằng về khoản nhà thờ đạo phía sau kinh thành, rằng tuy có sắc bảo nhưng ngại khó tuân hành. Bọn thần xét nghị chỗ đất này nguyên có chùa Phật vì từ khi sụp đổ đến nay chưa có ngân sách dồi dào nên chưa tu bổ, nay lại phá chùa Phật để cất nhà thờ đạo là một điều không thuận. Huống chi trong thành nội từ trước đến nay chẳng có giáo dân có nhà ở đây vậy mà cất nhà thờ đạo là hai điều không thuận. Vậy đề nghị nên triệt hạ nhà thờ đạo này và cho tùy ý chọn cất ngoài sông bên ngoài bốn phía kinh thành… Bọn thần Cơ mật viện hai ba lần thương nghị giải thích như vậy nhưng quyền khâm sứ nhất định không nghe…” (sđd, trang 821)· Ngày 26 tháng 11, Duy Tân (1907-1916) năm thứ nhất, Phụ Chánh tâu việc Ngô Đình Khả cất nhà thờ đạo Thiên Chúa trên nền chùa Linh Hựu trong thành nội: "Bọn thần phủ Phụ chánh tâu (châu điểm): Tháng 11 năm thứ 17 tiếp được thư của nguyên quyền khâm sứ đại thần Mô Li Ê nói thượng thư Ngô Đình Khả cất nhà thờ đạo bên trong hoàng thành là rất không hợp, thần phủ nên lập tức tra xét rõ nghiêm xử, chiếu theo phận sự mà quy trách nhiệm… Vậy xin chiếu trọng luật về tội không được làm mà làm xử thượng thư Ngô Đình Khả 80 trượng, giáng 3 cấp rời khỏi chức vụ, được giảm tội danh và phải triệt hạ giáo đường, việc này đã thương nghị cùng nguyên quyền khâm sứ đại thần xét biện. Tháng 7 năm ngoái phụng thương chuẩn triệt hạ giáo đường trong thành nội và cho tùy ý xây cất ở bốn phía sông bên ngoài kinh thành. Kế đó căn cứ viên ấy trình xin trả giáo đường này sửa lại làm chùa để lưu giữ tích cũ, viên ấy xin lãnh tiền quan 300 đồng đem về mua sắm vật liệu và xin cất giáo đường mới ở nền nhà kho cũ xã Tiên Nộn…” (sđd, trang 872) Trương Công Khanh còn nhận xét: “Có thể nói những bản tấu đã được vua phê duyệt đã phần nào nói đến tính quyết đoán của luật pháp bấy giờ, có nghĩa rằng cái gì anh đã chiếm phá, xây dựng bằng hành vi làm trái thì phải phá bỏ, bởi cho dù ở đó là một ngôi chùa mục nát, thì cũng sẽ được tu bổ lại. Chỉ tiếc rằng chùa Báo Thiên là một ngôi chùa trong những ngôi chùa ở quá xa kinh thành nên không giữ được vì “nước xa không chữa được lửa gần”. Và cũng phải kể đến âm mưu của Nguyễn Hữu Độ khi cùng với Giám mục Puginier chiếm phá chùa Báo Thiên, trong khi nhẽ ra ông ta phải tâu với triều đình về việc tu bổ, sửa sang lại chùa”. Những cứ liệu rõ ràng về việc chiếm phá chùa chiền nói chung và chùa Báo Thiên nói riêng là một “hệ thống ý thức đồng hóa” của giáo sĩ thừa sai mà “Giám mục” Purinier là một quán quân. Với chùa Báo Thiên, không cần phải tìm đến nhiều tài liệu dài dòng, chỉ cần đọc lại hồi ký của Công sứ Bonnal đã quá đủ để minh chứng nó đã bị chiếm phá để xây nhà thờ Lớn như thế nào, vậy mà “linh mục” Thiện Cẩm vẫn còn nhì nhằng cãi chày cãi cối: “Nếu như lịch sử chứng minh được rằng đất nhà Chung Hà Nội, bao gồm cả nhà thờ Lớn, Tòa Tổng Giám mục hiện nay và Tòa Khâm sứ đang tranh chấp là đất chùa Báo Thiên và đã bị Tây chiếm đoạt đem cho các cố Tây… thì tôi tin rằng Giáo hội Công giáo chúng tôi sẽ chẳng ngần ngại gì mà không trả lại cho Phật giáo, cũng như Đức Tổng Giám mục Duval đã trả lại ngôi nhà thờ Chánh tòa Alger cho Hồi giáo, sau khi Angérie được độc lập, vì lý do ngôi nhà thờ đó vốn là một đền thờ Hồi giáo”. Những lập luận “đất vô chủ” của một số người càng trở nên thiếu căn cứ và ngụy biện, vì rằng cái gì đã là di sản thì dù nó có nằm sâu dưới lòng đất, chúng ta cũng phải đưa nó lên và bảo quản. Nếu nói về những “di sản vô chủ” thì những văn miếu của Nho giáo, những ngôi đền thờ thần thành hoàng, thờ danh nhân, những khu di tích được khai quật… làm gì còn nho sĩ, hậu nhân nào, chẳng lẽ cũng tùy tiện chiếm phá hay sao? Chùa chiền, miếu mạo là di sản văn hóa của dân tộc Việt Nam, của nhân dân Việt Nam, cho dù chiến tranh có tàn phá nó chỉ còn cái móng, hay nền đất không thì cũng sẽ được nhân dân không phục lại. Không có cái lý luận “vô chủ” nào có thể áp đặt lên những di sản văn hóa của dân tộc. Đất di tích, di sản, hương hỏa không thể bị tiêu diệt thời hiệu, đó là nguyên tắc pháp lý chung ở mỗi dân tộc. Và đó là điều mà mỗi người dân Việt Nam luôn ghi nhớ. Quý vị có thể tìm đọc lại những cứ liệu này và nhiều hơn nữa những tư liệu nói về chính sách của đạo Thiên Chúa trong luận án tiến sĩ của Giáo sư Cao Huy Thuần: “Đạo Thiên Chúa và chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam”. Hiện nay luận án này đã được in thành sách “Giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam (1857 - 1914), NXB Tôn Giáo, 2003). | ||
Trần Điều (Theo Blog Sen Việt) |
| |
Những bản tin khác:
at
15:08
0
comments
Labels: PhậtGiáo

Huong Ve Que Cu Luc Chieu Ta 
