30 thg 5, 2009

FaceUp/NgẩngMặt

...
Dường như không có bất kỳ ngoại lệ nào, phép lạ nào cho những trật tự của thiên nhiên. Tôi có ấn tưởng rằng ngày nay hầu hết các nhà thần học đều bối rối bởi những cuộc nói chuyện về phép lạ, nhưng niềm tin của những tôn giáo độc thần lại đặt cơ sở trên những câu chuyện về phép lạ- một bụi cây phát cháy, một ngôi mộ trống rỗng, một thiên thần đọc kinh Koran cho Mohammed- và một vài niềm tin theo loại này dạy rằng phép lạ vẫn tiếp tục cho đến ngày nay. Đối với tôi những chứng cứ cho tất cả những phép lạ này yếu hơn hẳn những chứng cứ về phản ứng hạt nhân lạnh (1), và tôi không tin vào những phản ứng hạt nhân theo kiểu này. Trên hết, ngày nay chúng ta hiểu rằng ngay cả con người cũng là kết qủa của sự chọn lọc tự nhiên tác động lên hàng triệu năm.
...
http://www.giaodiemonline.com/noidung_detail.php?newsid=3845&PHPSESSID=75e18dc19cd247b787156acbf1dd47e9
http://www.sachhiem.net/KHOAHOC/NguyenHouston.php

14 thg 5, 2009

NhânĐọc"ThấyPhật"

Ngày 14.05.2009 Giờ 17:08

Bác sĩ trò chuyện

Thư gửi anh Cao Huy Thuần (nhân đọc Thấy Phật)

Anh Cao Huy Thuần ơi,

Tôi viết thư này cho anh đúng vào ngày Phật đản, cũng ngộ! Tình cờ thôi. Tôi mới nhận được cuốn Thấy Phật của anh hôm qua, đọc và viết liền cho anh vài “cảm xúc”, kẻo nguội. Nhìn lại lịch, thì ra là ngày Phật đản!

BS Đỗ Hồng Ngọc

Tôi mừng cho anh, anh Thuần à, mừng anh đã “thấy Phật”, à mà không, anh thấy pháp thân của Phật, à mà không nữa, anh thấy Như Lai. Phật là Như Lai nhưng Như Lai không phải Phật, Như Lai là Như Lai. Là cánh hoa mai nở thiên thu giữa đêm trừ tịch, là cánh hoa đào “năm ngoái” vẫn còn cười với gió đông. Thật ra anh biết đó, làm gì có hoa đào năm ngoái, hoa đào thiên thu thì có, đời đời kiếp kiếp, chẳng sinh chẳng diệt thì có. Nó cứ việc nở với gió đông và ngộ thay, nó cười mỉm, cười mũi vào anh chàng thi sĩ ngờ nghệch kia cứ tưởng hoa đào năm ngoái của anh còn đó để mà than thở nhân diện đào hoa nay đã về đâu? Về đâu? Chẳng về đâu cả, bởi chẳng đến từ đâu. Vô sở tùng lai diệc vô sở khứ… Tôi khoái cái “tiếu đông phong” của hoa đào trong thơ Thôi Hộ. Cái hoa đào đó nó cười tủm tỉm anh chàng thi sĩ chưa thấy biết như lai kia. Còn người đẹp nhân diện đào hoa nọ có mất đi đâu bao giờ, có nhạt phai bao giờ đâu, ngàn năm trước ngàn năm sau vẫn vậy, vẫn tương ánh hồng mãi đó thôi. Chỉ có chàng thi sĩ loay hoay trong cái ngã của mình, là ta, của ta, nên mới buồn rầu, than thở. Anh không phải là chàng thi sĩ đó, nhưng như anh nói, cũng chỉ là một người mù với chiếc gậy, tệ hơn, “mắt mở nhưng nào thấy” như phần đông chúng ta, trong đó có tôi. Nhưng vì anh là một phật tử trí thức, tôi không tin là anh “xớ rớ uyên thâm” như người ta vẫn nói mà anh quả đã có con đường để đi, để thấy, để “ngộ” và để “nhập”. Tôi tin anh đã thõng tay vào chợ từ lâu. Anh đã thấy hoa mai nở giữa đêm trừ tịch, anh đã lại thấy mặt trăng tròn nhất, sáng nhất giữa ngày Vu lan, và anh còn thấy được cả bầy khỉ nắm đuôi nhau mò trăng đáy nước, chẳng chịu nhìn lên một chút! Có điều khi thấy biết (tri kiến) như vậy rồi thì người ta thường ú ớ, nói không được, bất khả thuyết, nên phải dùng ẩn dụ, ngụ ngôn. Thấy Phật của anh đầy những ẩn dụ, ngụ ngôn là vậy. Nói vậy mà không phải vậy. Không phải vậy mà vậy. Tức phi thị danh. Anh bắt chước Pháp Hoa kể chuyện trên trời dưới đất để “ẩn đi chỗ khác” mà chỉ đây là diệu pháp, kia là liên hoa, đưa đạo vào đời, cư trần lạc đạo, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Anh nhìn bất nhị, anh thấy cái chẳng khác trong cái chẳng một, nên chẳng cần dính mắc đó đây.

“Tôi tin anh đã thõng tay vào chợ từ lâu. Anh đã thấy hoa mai nở giữa đêm trừ tịch, anh đã lại thấy mặt trăng tròn nhất, sáng nhất giữa ngày Vu lan”

Nhưng thú vị nhất trong Thấy Phật, theo tôi, là anh đã bắt chước người xưa mà đi “chăn trăng”. Đầu tiên là anh mơ trăng, rồi nhìn trăng, thấy trăng, theo trăng, tán tỉnh đùa cợt với trăng để rồi sau cùng… trời ơi, hoá ra đằng sau trăng là nguyệt! Chả có trăng nào cả. Anh theo trăng mà gặp nguyệt! Tôi bỗng nhớ Trịnh Công Sơn. “Từ khi trăng là nguyệt, cho tôi bóng mát thật là…”. Thật là sao thì chàng không nói được, chàng ú ớ, bất khả thuyết. Cái không may của Trịnh là “từ khi em là nguyệt”, thì “trong ta có những mặt trời”!

Tâm bình dị, dạ chân chất, nhìn đâu cũng thấy Phật… Ảnh: Tiến Đạt

Anh Thuần, anh “chăn trăng” là để thấy nguyệt. Nhìn trăng thấy Phật. Nhìn Phật thấy Như Lai. Ấy là con đường tất yếu. Nếu không vậy thì Bồ tát Thường Bất Khinh đâu có cả đời chắp tay cung kính vái chào mọi người, rằng “Ngài sẽ là một vị Phật tương lai”. Vấn đề còn lại là mê ngộ như anh nói. Mê là chúng sanh, ngộ là Phật. Nhưng ngộ cái gì, ngộ cái đằng sau trăng là nguyệt, nguyệt Như Lai, nguyệt vĩnh hằng, thường lạc ngã tịnh. Nó vằng vặc ngàn đời, nó tự tròn đầy, nó không dao động… Anh nói “Bây giờ tóc bạc cả rồi, đọc đoạn kinh Ta ẩn đi chỗ khác mà họ không biết, tôi rung động cả người” thì tôi hiểu cái sự rung động đó của anh, đó là cái rúng động của sáu thức đã chuyển hoá thành diệu quan sát trí, khi người ta đã biết nhìn “với mắt ở trong lòng”, mắt Tuệ, mắt Không.

Cho nên khi một nhà văn, một trí thức, chữ nghĩa như anh mà ú ớ, mà nói không được, mà rúng động, thì tôi không ngạc nhiên chút nào cả khi đọc mấy câu thơ “hò hẹn” của anh, khi khép lại cuốn sách. Khác với Trịnh Công Sơn, “những hẹn hò từ nay khép lại”, với anh, thì những hẹn hò từ nay… mở ra!

Đâu có lạ quen gì

Gặp nhau không hò hẹn

Bởi nó là “cái đó”. Nó vậy đó! Cho nên tôi mừng anh chẳng những “thấy Phật” mà còn thấy cả “cái đó”, Tathagata.

Ngày 9.5.2009
Thân mến,
Đỗ Hồng Ngọc

Thấy Phật là tác phẩm mới của giáo sư Cao Huy Thuần vừa được công ty Phương Nam và nhà xuất bản Tri Thức ấn hành. Những tản văn trong tập sách là những “cái thấy” của tác giả từ những kinh nghiệm học và hành Phật của ông. Giáo sư Cao Huy Thuần hiện đang sống ở Pháp, đã xuất bản nhiều tác phẩm có tiếng vang trong nước, trong đó có Nắng và hoa, Thế giới quanh ta.



3 thg 5, 2009

...ConNgườiTrongNhạcTrịnhCôngSơn

Chiều kích đặc biệt của con người

trong nhạc Trịnh Công Sơn

Nguyễn Hoàn

14 tháng 4, 2009


... Trong quan niệm nghệ thuật về con người của Trịnh Công Sơn, con người được đo bằng thước đo riêng, và vì thế, con người được cảm nhận và khám phá ở những chiều kích rất lạ, nhỏ bé và lớn lao, bình thường và khác thường, hiện thực và siêu thực...



Đề cao vai trò của chủ thể tư duy, triết gia Pháp René Descartes có câu nổi tiếng: “Tôi tư duy vậy tôi tồn tại”. Hẳn là trong ý nghĩa đó, Trịnh Công Sơn đã viết: “Tôi yêu và tôi tồn tại”, “Tôi hát là tôi hiện hữu”. Có yêu đời, yêu người đến đắm đuối và tiếc nuối, yêu “bằng nỗi lòng của tên tuyệt vọng”, tuyệt vọng không phải vì chán đời mà vì yêu quá cuộc đời, vì khắc khoải nghĩ đến lúc phải lìa xa cõi thế, “thí dụ bây giờ tôi phải đi, tôi phải đi, tay chia ly cùng đời sống này” (Rơi lệ ru người), Trịnh Công Sơn mới viết nổi dòng nhạc “hát kinh” (“Chiều em ra đứng hát kinh đầu sông”-Đoá hoa vô thường) xuyên thời gian cho tình yêu và phận người: “Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau” (Diễm xưa).

Cái độc đáo mà người nghệ sĩ mang lại cho đời là ở thế giới nghệ thuật do họ sáng tạo ra, đó chính là “thiên nhiên thứ hai”, nói theo cách của mỹ học, mà họ góp vào với đời. Đánh giá tổng quan về thế giới nghệ thuật Trịnh Công Sơn, Văn Cao viết: “Tôi gọi Trịnh Công Sơn là người ca thơ (Chantre) bởi ở Sơn, nhạc và thơ quyện vào nhau đến độ khó phân định cái nào là chính, cái nào là phụ”. Phạm Tuyên gọi Trịnh Công Sơn là “đỉnh cao của âm nhạc giàu chất thơ và triết lý”. Sơn Nam viết: “Nhuần nhuyễn, ý tứ gắn bó hữu cơ, không cường điệu, tính thuyết phục, tính khái quát, nhân bản...bao nhiêu đòi hỏi về lý thuyết văn nghệ quả là hiển hiện trong nhạc Trịnh Công Sơn”, đặc biệt, Sơn Nam còn chỉ rõ tính chất dân tộc-hiện đại của nhạc Trịnh Công Sơn và gọi đó là “điệu hát Nam Ai hiện đại của người ven biển Đông...”. Phạm Duy khẳng định: “Toàn bộ âm nhạc của anh đẹp như một bức hoạ trừu tượng hơn là tả thực”. Trong thế giới nghệ thuật đặc biệt của Trịnh Công Sơn mà các nhạc sĩ, nhà văn đã gọi tên bằng nhiều mỹ từ như vậy, thế giới của nhạc, của thơ, của triết lý hoà quyện, của hội hoạ trừu tượng, của điệu hát dân tộc-hiện đại Nam Ai..., dĩ nhiên, quan niệm nghệ thuật về con người của Trịnh Công Sơn có nhiều độc đáo và mới lạ. Trong quan niệm nghệ thuật về con người của Trịnh Công Sơn, con người được đo bằng thước đo riêng, và vì thế, con người được cảm nhận và khám phá ở những chiều kích rất lạ, nhỏ bé và lớn lao, bình thường và khác thường, hiện thực và siêu thực.

...

http://www.sachhiem.net/VANHOC/NguyenHoan.php

2 thg 5, 2009

"ÔngHoàngVâtLý"

Thứ tư, 22/4/2009, 08:51 GMT+7

Cuộc đời 'ông hoàng vật lý' Stephen Hawking qua ảnh

Tình trạng sức khỏe sút kém của Giáo sư Stephen Hawking đang gây sự chú ý, bởi ông là một trong những nhà toán học và vật lý có ảnh hưởng nhất thế giới hiện nay và được biết đến nhiều với nghiên cứu về lỗ đen vũ trụ.
> Giáo sư Stephen Hawking ốm nặng

Cậu bé Stephen Hawking (trái) chào đời năm 1942 chụp ảnh cùng em gái Mary. Ảnh: Telegraph.
Hawking năm 12 tuổi tại vườn nhà ở St Alban và trong lễ tốt nghiệp Đại học Oxford năm 1962 (phải). Ảnh: MMP Cambrige.
Làm lễ cưới với cô dâu Jane Wilde năm 1965. Ảnh: Telegraph.
Stephen Hawking cùng vợ Jane Wilde và con trai Tim, sau khi nhận bằng danh dự tại Đại học Cambridge. Ở tuổi 21, ông mắc bệnh xơ cứng teo cơ và khiến ông bị liệt gần như hoàn toàn. Ảnh: Telegraph.
Lễ cưới của Stephen Hawking với người vợ thứ hai Elaine Mason năm 1995. Ảnh: PA.
Stephen Hawking tháng 4/1996. Ông nổi tiếng với những công trình nghiên cứu về hố đen trong vũ trụ và theo đuổi mục tiêu tìm ra một “lý thuyết thống nhất”, để giải quyết các mâu thuẫn giữa thuyết tương đối của Albert Einstein và thuyết lượng tử. Ảnh: AP.
Giáo sư Stephen Hawking xuất hiện trên một phần của bộ phim hoạt hình dài tập nổi tiếng The Simpsons (Gia đình Simpsons) có tên They Saved Lisa's Brain (Họ đã cứu bộ não của Lisa), phát lần đầu tại Mỹ năm 1999. Ảnh: Telegraph.
Giáo sư Hawking giảng bài tại Trung tâm toán học, Đại học Cambridge tháng 10/2001. Ông giao tiếp thông qua một thiết bị tổng hợp tiếng nói gắn với máy tính. Mỗi khi cần nói, ông gõ chữ vào máy tính. Ảnh: Martin Pope.
Tháng 10/2004, Giáo sư Hawking đang nhắc đến cuộc chiến tại Iraq. Ảnh: Eddie Mulholland.
Nữ hoàng Anh Elizabeth II gặp Giáo sư Stephen Hawking tại Phòng Âm nhạc trong Điện Buckingham, ngày 18/5/2006. Ảnh: AP.
Giáo sư Hawking trải nghiệm tình trạng không trọng lực trên một chiếc máy bay trên bầu trời Đại Tây Dương, ngoài khơi bang Florida của Mỹ tháng 4/2007. Ảnh: AP.
Giáo sư Stephen Hawking kéo bức rèm khai trương chiếc Đồng hồ Corpus mới lắp đặt tại Trường Corpus Christi College thuộc Đại học Cambridge, tháng 9/2008. Vị giáo sư 67 tuổi này đang ốm nặng tại bệnh viện Addenbrooke, thành phố Cambridge của Anh. Ảnh: PA.

Đình Chính