23 thg 3, 2009

...NhữngThăngTrầmCủaPhậtGiáo

TẢN MẠN VỀ NHỮNG THĂNG TRẦM
CỦA PHẬT GIÁO

Ðào Viên

Phật Giáo, được đức Thế Tôn đề xướng cách đây trên hai ngàn năm trăm năm, đã trải qua nhiều cuộc thăng trầm suốt chiều dài của lịch sử nhân loại. Từ lúc mới phôi thai khi còn ở một tiểu vương quốc bé nhỏ chân dãy núi Hy Mã Lạp Sơn (nay thuộc Nepal) cho đến ngày nay là một tôn giáo quan trọng, làm nền tảng cho nhiều nền văn hóa Á Châu, và đang lan tràn sang Tây Âu để trở nên một tôn giáo đáng chú ý tại nhiều quốc gia(1), tôn giáo này đã chứng tỏ có một sức sống dẻo dai, bền bỉ. Nếu có những lúc, tại nhiều nơi, Phật giáo đã rất hưng thịnh thì ngược lại, cũng có nhiều thời kỳ, tại nhiều nước, Phật giáo đã bị tiêu diệt gần như hoàn toàn chỉ còn để lại vài chứng tích khảo cổ của một thời kỳ huy hoàng.

Tại Ấn Ðộ, cái nôi của Phật Giáo, thời kỳ hưng thịnh nhất là vào thế kỷ thứ ba trước Tây Lịch, dưới thời đại của vua Asoka (A Dục), quốc vương đi thứ ba triều đại Maurya ở vương quốc Magadha (bây gi là tiểu bang Bihar, Bangladesh). Phật giáo đã chinh phục vương quốc này - hay đúng hơn quốc vương Asoka - không phải bằng võ lực như số phận của nhiều dân tộc nhược tiểu khác với những tôn giáo khác sau này, mà là bằng sức thuyết phục, bằng sự cảm hóa. Người ta kể rằng, trước khi trở thành một Phật tử, vua Asoka cũng là một vị tiểu vương gia phóng túng, ham ăn chơi, thích rượu chè săn bắn như các vị tiểu vương Ấn độ khác thời bấygiờ. Nếu ta tin vào những truyền thuyết, thì vua Asoka còn là một vị hôn quân ác độc đã giết anh em để dành ngôi vua. Vào năm thứ chín của triều đại, vua Asoka mang quân đi chinh phục vương quốc Kalinga, lúc đó còn độc lập đối với Madagha. Cuộc chiến thắng của vua Asoka đã gây tử nạn cho cả trăm ngàn người, và điều này đã làm cho vua Asoka thấy ăn năn hối hận, khiến vua trở thành một Phật tử, một lòng dành cuộc đời còn lại hoằng dương Phật pháp để đem lại hạnh phúc an lạc cho muôn dân. Vua Asoka có lẽ là vị vua đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã lập ra chương trình An Sinh Xã Hội (social security) cho con dân mình. Thấm nhuần Phật pháp, đầy lòng từ bi hỉ xả, vua Asoka đã hạn chế giết hại giống vật - chính vua không săn bắn nữa - gia giảm hình tội, hòa đồng các tôn giáo khác nhau, và nhất là khuyến khích tu sĩ thu thập kinh điển, con dân học hành Phật đạo. Không những chỉ hoằng dương Phật pháp trong vương quốc mình mà thôi - một đế quốc rộng lớn, từ Madagha (Bangladesh bây giờ) tới biên giới Ba Tư (Iran bây giờ) - vua còn gửi các đoàn truyền giáo đi các miền tây bắc, miền nam Ấn độ, cùng là đảo Tích Lan (Ceylan, bây giờ là Sri Lanka) nữa. Ðạo Phật từ tây bắc Ấn đã lan truyền sang Tây Tạng, Trung Hoa, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản. Ðó là hệ phái Ðại Thừa. Từ nam Ấn và Tích Lan đã truyền sang Miến Diện, Thái Lan, Lào và Căm Bốt. Ðây là hệ phái Nguyên Thủy (hay còn gọi là Tiểu Thừa). Phật giáo còn lan cả sang đến Afghanistan. Kinh điển Pali có ghi lại cuộc đối thoại giữa vua Menander (Di Lan Ðà), một ông tướng Hy Lạp, sau làm vua xứ Bactria (nay thuộc Afganistan) và tu sĩ Nagasena (Na Tiên Tỳ Kheo) từ Ấn độ tới.


Vua Asoka (A Dục vương)

Sau nhiều thế kỷ hưng phấn, với những nhà Phật học uyên bác, cao thâm như các ngài Long Thọ (Nagarjuna), Vô Trước (Asanga), Thế Thân (Vasubandhu), Cưu Ma La Thập (Kumarajica), Mã Minh (Asvaghosa) vân vân, đạo Phật đã dần dần tàn lụi ngay tại Ấn độ. Lý do của sự suy vi này không được rõ rệt cho lắm, nhưng nhiều người đã nghĩ tới hai khía cạnh. Thứ nhất, hệ thống triết học siêu hình của Phật giáo đã mất tính chất độc đáo khi tôn giáo này bắt đầu du nhập một số nguyên lý siêu hình của Ấn độ giáo (Hinduism), có lẽ là để có thêm tín đồ. Bởi vậy Ấn độ giáo (Vệ đà) đã tìm cách đồng hóa Phật giáo vào hệ thống tư tưởng của mình - coi Phật giáo là một biến thái của Ấn độ giáo - bằng cách cũng nhận thuyết bất nhị (nonduality) mà chỉ trích Phật giáo ở chỗ đã kết nạp cả những vị thần Ấn độ giáo vào hàng các vị chư Phật, Bồ Tát. Thứ hai, chủ trương công bằng xã hội, không phân biệt giai cấp của Phật giáo đã không được các giới lãnh đạo ủng hộ, nếu không phải là bị coi là nguy hiểm. Nhưng sang đến thế kỷ thứ mười hai sau Tây lịch, với sự xâm nhập của Hồi giáo (Islam), thì Phật giáo tại Ấn coi như bị tận diệt. Hồi giáo, cũng như Cơ Ðốc giáo (Christianism), là một tôn giáo độc thần có thái độ bất bao dung đối với các tín ngưỡng khác, coi những tín ngưỡng khác, nhất là một tôn giáo mà họ gọi là đa thần như Phật giáo, là một thứ tín ngưỡng ma quỷ không thể dung thứ được. Người Hồi đã xâm nhập vào tây bắc Ấn độ từ 1001 sau Tây Lịch và đã tàn phá tất cả đền chùa, đạo tràng, công trình xây cất, thư viện, giết hại các tăng chúng và đốt tất cả các kinh điển. Các đại học Phật giáo tại Nalanda và Vikramashila, xưa kia có cả ngàn tăng chúng tu tập, - trong số đó có các ngài Cưu Ma La Thập, Pháp Hiển, Huyền trang, Bồ Ðề Ðạt Ma - đã bị tàn phá không còn gì. Ðến năm 1193, quân Hồi chiếm đ ược Madagha thì Phật giáo, như là một động lực trí thức và tâm linh cüa vån minh Ấn Ðộ, đã mất hẳn.

Phật giáo tại Tích Lan may mắn hơn, đã trường tồn suốt chiều dài lịch sử quốc gia, từ thời vua Asoka cho đến ngày nay. Theo sử liệu Tích Lan, thể theo lời yêu cầu của vua Tissa Tích Lan (thế kỷ thứ ba trước Tây Lịch), vua Asoka đã phái con trai là hoàng tử Mahinda, và sau đó con gái là công chúa Sanghamitta sang hoằng dương Phật pháp tại đảo nàỵ Chính công chúa Sanghamitta đã lấy một cành Bồ Ðề sang trồng tại Tích Lan mà còn tươi tốt đến tận bây giờ. Dưới ảnh hưởng tốt đẹp của Phật giáo, Tích Lan đã được hưởng một thời kỳ thịnh vượng, thanh bình gần ngàn năm. Pháp Hiển Ðại Sư đi chu du học đạo từ Ấn độ đến Tích Lan vào thế kỷ thứ năm sau Tây Lịch, khi trở về Trung Hoa đã ghi lại nhiều chứng tích của thời đại huy hoàng ấy. Sang thế kỷ thứ sáu và thứ bảy thì Phật giáo Tích Lan suy vi vì nội bộ chia rẽ và vì nạn xâm lấn của giống người Tamils phía nam Ấn độ, nhưng sau đó chấn chỉnh lại được.

Từ thế kỷ thứ 16 trở đi, với sự xâm lăng của các nước Tây Âu, Phật giáo Tích Lan đã phải trải qua nhiều pháp nạn khủng khiếp. Mới đầu là người Bồ Ðào Nha (Portugese 1540-1658), vì muốn bắt dân Tích Lan cải đạo thành Cơ Ðốc La Mã (Catholicism), đã phá hủy các chùa chiền, thư viện, hôi của các đền đài, sát hại tăng đoàn. Tất cả những ai mặc áo cà sa vàng là bị giết, đến nỗi sau khi người Bồ bị đuổi đi, toàn thể Tích Lan chỉ còn có 5 vị sa di so với 60,000 vị được Pháp Hiển đại sư ghi lại từ mười thế kỷ trước. Sau đó đến lượt người Hòa Lan (1678-1795) và người Anh (1795-1956) cũng tìm cách du nhập đạo Cơ Ðốc Tin Lành (Protestant) vào Tích Lan. Thái độ của đạo Tin Lành đỡ cực đoan và hung hãn hơn đạo Cơ Ðốc La Mă. Họ đem những mối lợi kinh tế, xã hội và chính trị dụ dỗ người bản xứ cải đạo Thí dụ như muốn làm việc cho chính phủ bảo hộ Anh thì tốt hơn hãy trở thành Tin Lành. Nhưng hiểm họa lớn hơn đối với Phật giáo Tích Lan là khi những nhà truyền giáo Cơ đốc đổ vào Tích Lan, mở các trưng học, với sự trợ giúp của nhà cầm quyền Anh, bài xích Phật giáo như một mê tín sùng bái thần tượng. Kinh nghiệm tương tự cũng đã xẩy ra tại Việt Nam. Phật giáo phản công lại, và phải nhờ đến một tu sĩ trẻ tuổi có tên là Mohottivatte Gunananda, thông minh, học rộng, uyên bác cả Phật học lẫn triết học và kinh điển Cơ đốc giáo, mới ngăn chặn được sức tấn công của Cơ đốc giáo, và người dân Tích Lan mới giữ vững được tín ngưỡng cổ truyền.

Ông Henry Steel Olcott và bà Blavatski (1882)

Cũng phải kể thêm đến hai nhân vật khác đóng góp rất nhiều vào việc chấn hưng và hoằng dương Phật pháp tại đảo này. Một là ông Henry S. Olcott, người Hoa Kỳ. Sau khi nghiên cứu đạo Phật tại Tích Lan, Olcott đã hoàn toàn tin tưởng đạo Phật là một tôn giáo cao cả nhất cho loài người Năm 1880, ông đã thành lập Buddhist Theosophical Society, gây quỹ tổ chức các trường giậy Phật học. Hội của ông đã gây được nhiều tiếng vang tốt, củng cố cho vai trò của Phật giáo rất nhiều trong xứ cũng ngoài xứ. Người thứ hai là một nhà tu sĩ bản xứ, tên là Dharmapala Ông đã sáng lập ra hội Mahabodhi Society để quảng bá và giảng giậy Phật pháp. Nhờ những người trên mà dân chúng Tích Lan vẫn tin tưởng và giữ vững lòng tin vào đạo cổ truyền. Có lẽ vì phải dấn thân tranh đấu trực diện với những tổ chức tôn giáo ngoại lai, làm chính trị, dùng những thủ đoạn chính trị để bài xích đạo Phật, mà Phật giáo Tích Lan sau này cũng không còn tính cách thuần tôn giáo nữa và cũng họp thành những đảng phái chính trị tham gia chính quyền. Sau khi dành lại độc lập khỏi người Anh năm 1956, Tích Lan có khoảng 65% dân theo Phật giáo.

Sau Tích Lan, phải nói tới Phật giáo Trung hoa. Phật giáo có lẽ đã được du nhập vào xứ này từ thế kỷ thứ nhất trước Tây Lịch, lúc đó vào thời nhà Hán. Khi đó Khổng giáo và Lão giáo đã thấm nhuần vào đời sống xã hội và tâm linh người Trung Hoa. Vì chính bản chất bao dung của tôn giáo nhập cảng, không tìm cách thay thế tín ngưỡng địa phương, và nhất là giá trị thực chất của tư tưởng siêu hình trong Phật giáo, rất gần với tâm tư Trung Hoa, đặc biệt là tư tưởng Lão Trang, cho nên Phật giáo đã được đón nhận dễ dàng. Suốt thời kỳ từ nhà Hán đến đi nhà Ðường, Phật giáo lan tràn rộng rãi trong nhân gian. Giới trí thức nghiên cứu Phật pháp rất nhiều và vua quan các triều đại, nhận thấy ảnh hưởng lợi ích của Phật giáo, cũng ủng hộ xây cất chùa chiền và ấn tống kinh sách. Nếu có nhiều tu sĩ Ấn đến Trung Hoa hoằng dương Phật pháp, nổi tiếng như các ngài Cưu Ma La Thập, Bồ Ðề Ðạt Ma, thì cũng có nhiều vị chân tăng Trung Hoa sang Ấn độ (thời đó gọi là Tây Trúc) tu tập và thỉnh kinh, như các ngài Pháp Hiển và Huyền Trang. Kinh điển Phạn ngữ và Pali được đem về và dịch ra tiếng Hán đã là một kho thư tịch rất quý báu cho mọi công trình nghiên cứu Phật học sau này, sau khi Phật giáo bị người Hồi tận diệt tại Ấn độ.

Óc sáng tạo của người Trung Hoa đã khai triển thêm triết học Phật giáo với sự thành lập nhiều tông phái Ðại Thừa như Tịnh Ðộ Tông, Thiên Thai Tông, Hoa Nghiêm Tông, Thiền Tông v.v… và từ đó đã đẩy mạnh sự phát triển Phật giáo. Phật giáo Trung Hoa dần dần có một bản sắc riêng hợp với văn hóa bản xứ hơn (thí dụ Quan Thế Âm Bồ Tát, là đàn ông, đã được người Trung Hoa biểu tượng là một người đàn bà).



Tượng Phật Thích Ca khắc trên núi đá ở Leshan

Trung Hoa đã có một thời kỳ cực thịnh dưới đời nhà Ðường. Phật giáo nương theo đó mà phát triển. Vì khách thập phương đi chùa mỗi ngày một đông, triều đình và các nhà quý tộc yểm trợ bằng tiền bạc cũng như hiện vật - đặc biệt địa ốc để xây chùa - thêm nhiều, Phật giáo Trung Hoa đã mở rộng hoạt động vào các lãnh vực thế tục như thương mại, công nghệ để quản trị và gia tăng tài sản. Nhiều chùa trở nên giầu có, tăng chúng gia tăng rất nhanh, làm giảm giá trị của sự tu hành. Ðiều này đã làm cho giới Nho sĩ theo đạo Khổng và đạo Lão làm quan trong triều đình rất bất bình, nên đã tâu vua trừng phạt. Năm 845, triều đình nhà Ðường, lúc đó ngân quỹ đang bị giảm sút vì các chùa và tăng đoàn được miễn thuế quá nhiều, đã mở một cuộc đàn áp rất lớn. Theo sử liệu Trung Hoa có tới 4,600 đại Thiền Viện và 40,000 chùa, am bị phá huỷ, trên 260,000 sư ni bị bắt hoàn tục, ruộng đất bị tịch thu, vàng bạc ngọc ngà châu báu tích tụ ở các chùa chiền bị bỏ vào ngân khố triều đình.

Từ đó, Phật giáo Trung Hoa có truyền thống phải phục vụ cho, và chịu sự kiểm soát của, triều đình. Triều đình mới có quyền ra sắc phong cho tăng ni được quy y, làm phật sự, lập sổ đăng bạ cho tăng lữ, quyết định số sư sãi ở chùa, bắt tăng ni hoàn tục nếu cần. Truyền thống đó vẫn tồn tới đến ngày nay. Tuy vậy, về mặt tư tưởng, Trung Hoa đã thành một trung tâm Phật học chính trong vùng, mà từ đó chánh pháp đã được lan tràn sang các nước lân bang như Triều Tiên (Hàn Quốc), Nhật Bản và Việt Nam.

Phật giáo được du nhập vào Nhật Bản từ thế kỷ thứ sáu qua ngả Bách Tế tức Triều Tiên hay Ðại Hàn bây giờ. Sử chép rằng năm 538 sau Tây Lịch, một tăng đoàn Triều tiên, được Thái Tử ở Kudura phái sang triều đình Nhật để giới thiệu một tôn giáo tốt đẹp nhất, theo ông ta. Lúc đầu triều đình Nhật rất chia rẽ về chuyện này. Phải chờ đến nửa thế kỷ sau, khi Thái tử Shokutu (Thánh Ðức) làm Nhiếp Chính Vương, khi đó ngài mới 19 tuổi, thì Phật giáo mới được hoàn toàn chấp nhận. Và cũng nhờ quyết định của vị Nhiếp Chính Vương trẻ tuổi say mê tôn giáo mới mà Phật giáo đã trở thành quốc giáo. Thái tử Shokutu, giống như vua Asoka bên Ấn độ, đã dốc lòng phát triển Phật giáo trong mọi lãnh vực, và Phật giáo ngược lại cũng đã ảnh hưởng sâu đậm vào nền văn minh xứ này, từ văn chương thi phú, qua âm nhạc, vũ điệu đến hội họa, kiến trúc. Trước khi Phật giáo được du nhập vào thì Nhật Bản vẫn có một tín ngưỡng cổ truyền là Thần giáo (Shintoism), một tôn giáo coi vị thủy tổ của dân Nhật là một vị nữ thần tức Thái Dương Thần Nữ. Lúc đầu, giới đạo sĩ Thần giáo có chống đối Phật giáo. Nhưng dần dà dưới ảnh hưởng của triết học Phật giáo, Thần giáo cũng thay đổi và chấp nhận nhiều vị Phật, như cho là Phật Ðại Nhật Như Lai (Mahavairocana), cũng là hiện thân của Thái Dương Thần Nữ.



Một ngôi chùa cổ ở Uji-shi, ngoại ô Tokyo

Nhiều tu sĩ Nhật đã sang Trung Quốc tầm sư học đạo và thỉnh kinh về nước. Khi về nước, họ đã lập ra nhiều tông phái khác nhau để hoằng dương Phật pháp rất nổi tiếng sau này. Ba tông phái chính của Phật giáo Nhật Bản là Lâm Tế (Rinzai của thiền sư Eisai còn gọi là Vinh Tây), Tào Ðộng (Soto của thiền sư Dogen còn gọi là Ðạo Nguyên), và Nhật Liên Tông (Nichiren do pháp sư Nichiren hay Nhật Liên lập nên). Ngoài ra, các tông phái khác như Tịnh Ðộ Tông (của pháp sư Honen, Pháp Nhiên), Mật Tông, Pháp Hoa Tông cũng vẫn hoạt động. Mặc dầu, suốt chiều dài lịch sử, Phật giáo Nhật cũng có những thời kỳ khủng hoảng (sư sãi đạo đức sa sút, chùa chiền làm giầu mờ ám..) nhưng nhờ sự ủng hộ của vua quan các triều đại, được sinh hoạt trong một xã hội tương đối ổn định không bị ngoại xâm, với một nền quân chủ được sự kính trọng của dân mà lại dành nhiều dễ dàng cho Phật giáo, cùng với sự xuất hiện của nhiều cao tăng đạo cao đức trọng, nên tôn giáo này đã phát triển rất mạnh và đóng góp rất nhiều vào nền văn minh Nhật.

Tây Tạng là một nước nhỏ ở giữa hai nước khổng lồ là Ấn độ và Trung Quốc tất nhiên phải chịu ảnh hưởng nặng nề của hai nước này. Về văn hóa, ảnh hưởng Ấn, nhưng về chính trị thì ảnh hưởng Trung Hoa. Phật giáo được du nhập từ Ấn độ vào từ thế kỷ thứ bẩy do ý muốn của một nhà vua Tây Tạng, bởi vì nhà vua có nhiều vợ trong số đó có một vị là công chúa xứ Nepal, một Phật tử. Một tu sĩ Phật giáo ngành Mật Tông Ấn độ có tên là Padmasambhava được mời sang hoằng pháp. Nếu ta tin vào những truyền thuyết thì nguyên do là nhà vua đã bị ma quỷ của bọn phù thủy theo đạo Bon - một tín ngưỡng địa phương dựa nhiều vào các phép phù thủy tà ma - quấy phá, phản đối ý muốn của vua muốn theo đạo Phật. Cũng vẫn theo truyền thuyết thì đại sư Padmasambhava đã thi triển phép thần thông hàng phục được bọn tà ma quỷ quái đó và Phật giáo trở nên tôn giáo chính của xứ này. Thực tế, có lẽ là đại sư Padmasambhava và những người ủng hộ ngài đã khéo léo đánh bại được đối thủ là các đạo sĩ Bon trong một cuộc tranh dành ảnh hưởng chính trị trong triều đình Tây Tạng. Vì đại sư chuyên tu Mật tông nên Phật giáo Tây Tạng đã có một sắc thái đặc biệt khác với Phật giáo tại các quốc gia khác. Mật Tông là một biến thái của Ðại thừa, phát triển từ miền Tây Bắc Ấn, tại đó dân cư thưa thớt, trình độ thấp kém, làm nghề du mục hay giặc cướp ở những miền hoang dã. Ở đây Phật giáo không thể truyền bá bằng những triết lý siêu hình như Bát Nhã Ba La Mật Ða được mà phải thay đổi cho phù hợp với điều kiện và nhu cầu địa phương, phải nhấn mạnh đến khía cạnh linh thiêng có tính cách mê tín như nghi lễ, thần chú, bùa phép, thần thông v.v.. Cũng vậy, ở Tây Tạng, để thích hợp với nếp sống địa phương, Phật giáo cũng đã phải kết nạp một số tín ngưỡng cổ truyền của đạo Bon để trở thành một ngành riêng biệt của Ðại Thừa Mật Tông gọi là Lạt Ma giáo (Lamaism). Vì được nhà vua giúp đỡ, tăng lữ Lama trở nên có quyền thế, địa vị cao trong xã hội, điều này đã gây mâu thuẫn với giới quý tộc. Sang thế kỷ thứ 9, một cuộc thanh trừng đã xẩy ra. Chùa chiền, đạo tràng bị phá huỷ, kho tàng Phật giáo bị đốt phá, tăng sĩ bị giết đầy ải hay bắt hoàn tục. Phật giáo tưởng như sẽ mất hẳn.


Nhà sư Tây Tạng đang tạo hình một Mandala


Đại sư Atisha, ảnh vẽ từ tu viện Kampala

Phải chờ đến thế kỷ thứ 11, trong một không khí dễ chịu hơn, Phật giáo mới hồi sinh được tại Tây Tạng, nhờ công lao của một đại sư Ấn độ, cũng theo Mật Tông, tên là Atisha, được mời sang giúp đỡ. Dưới sự lãnh đạo của đại sư Atisha, nhiều chùa chiền lại được xây cất lên, kinh điển được viết lại, tăng chúng được huấn luyện, đào tạo thêm, chỉnh đốn lại kỷ cương. Lại bắt đầu một thời kỳ phồn thịnh của Phật giáo. Trong thời kỳ này, đã xuất hiện nhiều tu sĩ tài ba xuất sắc như Naropa, Marpa và nhất là đồ đệ ông này tên là Milarepa, mà người ta còn nhớ đến như là một đạo sĩ pháp thuật cao cường có nhiều phép thần thông khác lạ. Tăng thống Tây Tạng lại cùng với giới quý tộc cầm quyền chính xứ này. Sang đến thế kỷ thứ 12, Phật giáo Tây Tạng đã gây được cả ảnh hưởng sang đế quốc Mông Cổ vì đã thuyết phục được với Hãn Mông Cổ theo đạo Phật, thay vì Thiên Chúa giáo, lúc ấy đang được một giáo sĩ Jesuite(2) truyền bá. Thế nhưng quyền lợi, của tư hữu, cũng như lạc thú thế tục lại một lần nữa làm hư hỏng những trưởng tử Như Lai, và chia rẽ trầm trọng lại xẩy ra. Một phe là các vị Mũ Ðỏ, - còn được gọi là trường phái Kagyu - phe kia là các sư Mũ Vàng - còn gọi là trường phái Geluk - lãnh đạo bởi một vị trưởng lão lỗi lạc là Tsong-kha-pa và rồi cháu ông ta là dGe-ldun-grub-pa. Trong cuộc tranh chấp chính trị thế tục này, các nhà lãnh đạo tăng thống Tây Tạng đã có một hành động có âm hưởng lớn lao đến tương lai Tây Tạng sau này: Họ đã nhờ đến ngoại bang can thiệp.

Năm 1578, trưởng lão Sonam Gyatso thuộc phe Mũ Vàng đã sang Mông Cổ để thực hiện một liên minh chính trị, và được Ðại Hãn Mông Cổ ban cho chức vị là Dalai Lama, người đầu tiên có chức vị này. Trưởng Lão Sonam Gyatso là truyền thừa đời thứ 3 ngành Geluk từ đại lão dGe-ldun-grub-pa xuống, nên được gọi là Dalai Lama đời thứ 3. Ðến năm 1641, để giải quyết vụ tranh chấp với phe Mũ Ðỏ đã đến hồi quyết liệt, vị Dalai Lama đi thứ 5 đã kêu gọi quân đội Mông Cổ vào can thiệp. Kết quả là Phật giáo Lama được thống nhất và Tây Tạng, về đời cũng như về đạo, tôn giáo cũng như chính trị, được đặt dưới quyền cai trị tối cao của vị Dalai Lama. Tuy nhiên, Ðại Hãn Mông Cổ đã tự phong cho mình là Vua Tây Tạng và xứ này, từ đó về sau, trở thành một thuộc quốc của Mông Cổ, rồi sau đó, của Trung Quốc. Vị Dalai Lama thứ 5 này đã có công xây cất toà đaị viện Potola, một công trình kiến trúc khổng lồ là trung tâm quyền lực chính trị và tôn giáo xứ này.

Ngài cũng đã làm một quyết định có ảnh hưởng lớn lao đến tương lai xứ sở, mà lúc đầu ngài có thể không ngờ tới. Ðể vinh danh và trả ơn vị thầy mình, một vị trưởng lão tu viện Tashilumpo, ngài đã tuyên dương cho vị trưởng lão đó một chức vị tối cao, ngang hàng với chức vị của mình, gọi là Panchen Lama (Ban Thiền Lạt Ma), một chức vị có thể truyền thừa lại cho hàng thừa kế. Ðiều này đã gây rắc rối cho Tây Tạng sau này bởi về sau, những chia rẽ giữa hai giòng Lạt Ma đã mở cửa cho ngoại bang (nhà Thanh bên Trung Hoa và người Anh bên Ấn độ) dễ dàng can thiệp. Quả nhiên, đến đời nhà Thanh, vị Ban Thiền Lạt Ma thứ 6 đã phải chạy sang Thanh Triều sau cuộc tranh chấp chính trị với vị Dalai Lama thứ 13, để trở thành một quân cờ cho người Trung Hoa thao túng. Ðến năm 1950, sau khi chiếm xong toàn bộ Tây Tạng, mà họ coi là một thuộc quốc từ lâu, Trung Hoa Cộng sản đã đem một vị Ban Thiền Lạt Ma từ Trung Hoa về trị vì thay thế cho vị Dalai Lama thứ 14 đã bỏ chạy sang Ấn độ.

Phật giáo ở Miến điện, Thái Lan, Lào, và Căm Bốt giống nhau ở chổ tất cả đều theo Phật giáo Nguyên Thủy hay Tiểu thừa và được sự ủng hộ của nhà vua, dưới một nền quân chủ tương đối vững vàng. Phật giáo ở những nước này không có những thăng trầm đặc biệt đáng kể.


Tăng sinh Lào trên đường khất thực

Chùa Monywa tại

Rangoon (Miến Điện)

Phật giáo Ðại Thừa cũng lan truyền cả sang Nam Dương quần đảo và cũng có một thời cực thịnh dưới triều đại Sailendra. Ðến khi Hồi giáo lan đến quần đảo này thì, cũng như tại Ấn độ, Phật giáo đã bị tiêu diệt. Ngày nay, chỉ còn một chứng tích cho thời đại huy hoàng ấy là công trình kiến trúc mỹ thuật với cả ngàn pho tượng Phật khổng lồ tại Borodudur, thuộc đảo Java. Borobudur ngày nay được coi là một kỳ quan của châu Á.

Ðối với những thăng trầm của Phật giáo Việt nam, thì đây là một đề tài khá quen thuộc với các độc giả, vì đã là đối tượng của nhiều cuộc biên khảo có gía trị(3). Phật giáo đã được du nhập từ Ấn độ vào Việt Nam từ thế kỷ thứ 2 Tây lịch, lúc đó nước ta, còn gọi là quận Giao Chỉ nội thuộc Trung Quốc. Trung tâm Phật giáo đầu tiên được hình thành là Trung Tâm Luy Lâu, nay là phủ Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh. Thiền học Trung Hoa chỉ vào Việt Nam ở thế kỷ thứ 3, do một người Việt Nam, tên là Khương Tăng Hội du nhập sau khi tu học tại Kiến Nghiệp, thủ đô nhà Ðông Ngô (nay là Nam Kinh). Sang đến thế kỷ thứ 10, khi Việt Nam dành lại được quyền tự chủ (Ngô Quyền, Ðinh tiên Hoàng..), thì Phật giáo mới tích cực đóng góp xây dựng đất nước. Cao điểm là dưới thời nhà Lý (thế kỷ thứ 11), với nhiều vị cao tăng (Pháp Thuận, Vạn Hạnh, Lý Giác, Ngô Chân Lưu…) góp công vào chính sự giúp vua trị nước. Họ không tham gia, nắm giữ chính quyền như các Hồng Y Giáo Chủ Mazarin, Richelieu của đạo Cơ Ðốc La Mã bên trời Âu, mà chỉ góp ý kiến, công việc khi được vua hỏi và nhờ vả. Song việc lại trở về chùa. Thời đó các tăng sĩ phần nhiều là những người có học, gần cận với dân, có đạo đức uy tín, nhưng không ham danh lợi thế tục, nên được vua vời đến. Ðời Lý có thể gọi là “đời thuần từ nhất nước ta (với những vua Lý Thánh Tông , Nhân Tông). Ðó là nhờ ảnh hưởng của đạo Phật”, như một học giả(4) đã nhận định.

Sang đến đời nhà Trần thì Phật Giáo đã đến thời kỳ cực thịnh. Các vua nhà Trần đều giỏi Phật học. Họ là những nhà lãnh đạo chính trị tài giỏi mà rất gần với dân. Quốc gia bền vững, trên thuận dưới hòa, quân dân nhất trí, cho nên Hội Nghị Diên Hồng mới có thể triệu tập được và đoàn quân bách chiến bách thắng Mông Cổ mới bị đẩy lui. Dưới đời nhà Trần, một ngành Thiền Tông đặc biệt Việt Nam ra đời, đó là Phật Giáo Trúc Lâm. Do ảnh hưởng lớn lao của vua Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng sĩ, đặc biệt vua Trần Nhân Tông, còn gọi là Trúc Lâm Đại Đầu Đà, Phật Giáo Trúc Lâm núi Yên Tử đã thống nhất được với 3 môn phái khác là Tỳ Ni Ða Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Ðường. Ngoài Thiền tông, Mật tông cũng có ảnh hưởng lớn đến Phật giáo Việt Nam nhờ sự đóng góp của một số tu sĩ Mật tông từ Ấn độ, Tây Tạng và Mông Cổ tới. Tăng đoàn đông đảo (trên 15,000 vị riêng phái Trúc Lâm), chùa tháp xây cất thêm nhiều, có nhiều cao tăng xuất hiện như vua Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, vua Trần Nhân Tông hay Trúc Lâm Đại Đầu Đà , Pháp Loa, Huyền Quang…trước tác để lại nhiều tác phẩm Phật học.



Bóng chùa Một Cột trên mặt nước hồ Linh Chiểu

Cuối đi nhà Trần sang đời nhà Lê, Phật giáo suy đồi, sau một thi kỳ cực thịnh. Lại nữa, khi Trương Phụ sang chiếm đóng nước ta (thế kỷ thứ 15), quân nhà Minh đã áp dụng chính sách đồng hóa dân ta. Bao nhiêu sách vở trước tác, nhất là về Phật học đều bị thu lượm về Tầu, thay thế bằng những tác phẩm cuả Trung Quốc. Sau đó, Nho học kiểu Tống nho được đề cao và Phật giáo bị giới trí thức khoa bảng đả kích. Kể từ đó, cho cả đến thời nhà Nguyễn, Nho học đã trở thành độc tôn, thì Phật giáo, như là một lực lượng lãnh đạo, chính trị văn hóa, đã bị mất ảnh hưởng. Nhưng về phương diện xã hội, tâm linh, Phật giáo, sau nhiều thế kỷ, đã đi sâu vào lòng dân Việt nam để nhào nặn ra con người Việt Nam như ngày nay: hiền hòa, chăm chỉ, khiêm cung, chịu cực.

Suốt mấy thế kỷ nội chiến, từ Trịnh Nguyễn phân tranh, dến Nguyễn Ánh Tây Sơn, xã hội Việt Nam trở thành tan nát, chia rẽ. Cuộc trả thù những người theo Tây Sơn của Nguyễn Ánh và các vua kế nghiệp càng làm cho dân chúng mất tin tưởng vào chính quyền trung ương. Người dân dễ dàng đón nhận một lối thoát mới, khi các nhà truyền giáo Tây Âu đến nước ta. Ðến khi người Pháp áp đặt được nền đô hộ lên Việt Nam, thì Phật giáo lại càng ở một thế kém hơn, tàn lụi nhanh hơn. Cơ Ðốc giáo La Mã, được sự trợ giúp của chính phủ bảo hộ Pháp đã lấn át Phật giáo cả về phương diện chính trị xã hội (Dụ số 10), lẫn văn hóa, và nhất là về giáo dục quần chúng. Năm 1915, khi người Pháp bãi bỏ chế độ giáo dục và thi cử dựa tên Hán Nôm - nền tảng của tam giáo Nho, Lão, Phật - mà thay thế bằng chữ quốc ngữ và Pháp văn, thì Phật giáo đã bị một đòn chí tử. Phật giáo không còn có chỗ đứng nào để đóng vai trò chỉ đạo về tâm linh cũng như đạo đức cho lớp hậu thế như trước nữa. Lớp trí thức lãnh đạo mới, (Ðông Dương Thời báo và Nam Phong Tạp Chí, rồi Phong Hóa) xuất thân từ các trường Thông Ngôn, trường Hậu Bổ, các trường Lycées và các trường nhà dòng, choáng váng trước văn minh nước Ðại Pháp, đã chỉ trích và bỏ rơi Phật giáo cũng như Nho giáo mà chạy theo Tây học(5). Cái dây nhau nối liền thế hệ cũ (Khổng học, Lão học, Phật học) với thế hệ mới đã bị cắt đứt. Cả một truyền thống dân tộc, trong đó có vai trò quan trọng của Phật giáo, đã bị vùi vào quên lãng.

* * *

Nhìn lại những bước thăng trầm của Phật giáo, trên các nước ở Á Châu, qua các thời đại, người ta không khỏi suy tư, thắc mắc muốn hiểu tại sao những chuyện ấy đã xẩy ra như vậy. Bình tĩnh nhìn sâu vào sự việc, đằng sau hay ở lớp dưới những sự kiện lịch sử, người ta có thể thấy những gì và từ đó có thể có những nhận định gì về tương lai của Phật giáo trong một thế giới mới khác hẳn, một nền văn hóa Tây Âu rất khác với Á Châu.

Có lẽ nhận định đầu tiên mọi người đều có là Phật giáo là một tôn giáo rất mềm dẻo. Ðến đâu, ở những xã hội rất khác nhau, những nền văn hóa khác biệt, tôn giáo này vẫn tìm cách thích ứng được với điều kiện địa phương, nhân nhượng ở những hình thức, nghi lễ bên ngoài mà không thay đổi những nguyên lý siêu hình căn bản. Bởi vậy, các tông phái Phật giáo có rất nhiều hình thức rất khác nhau, mà vẫn không chống đối nhau. Nếu người ta ngồi nói chuyện với các bậc tu hành các tông phái khác nhau ấy thì không ai có thể nhầm mà cho họ không phải là trưởng tử của Như Lai. Từ một vị Lạt Ma rách rưới lam lũ tu khổ hạnh ở một hang động trong dảy Hy Mã Lap Sơn đến một vị thiền sư trang nghiêm đẹp đẽ Nhật tại Kyoto, ta thấy phong thái họ khác hẳn nhau; tuy nhiên cả hai đều tỏ ra có một định lực thâm hậu, vững chãi, toát ra một lòng từ bi cao cả rộng lớn của những người đã đạt đến quả bất hoàn. Tham dự một buổi lễ Mật tông trong một chùa Tây Tạng, chiêng trống ầm ĩ, với nhiều hình tượng trông đáng sợ, và một khóa tụng kinh hiền hòa tại một đạo tràng ở Việt Nam, ta thấy rất khác. Mềm dẻo đã giúp cho Phật giáo sống còn, nhưng tính chất này cũng có thể có hại. Trường hợp sự suy tàn của Phật giáo Ấn Độ - sau khi những bậc đại trí giả, những triết gia kỳ tài như Long Thọ, Vô Trước, Thế Thân, Mã Minh không còn nữa, đã phải nhân nhượng cả về phương diện giáo lý với giáo phái Vệ Ðà của Ấn Độ giáo - là một thí dụ.

Một đặc điểm khác của Phật giáo là tôn giáo này có nhiều tính chất của một hệ thống triết học siêu hình hơn là một tôn giáo. Phật giáo không có những tín lý (faith), những giáo điều (dogma) cứng nhắc, không nhân nhượng, không thể nghĩ bàn như một số các tôn giáo độc thần (monotheism), đặc khối (monolithic) khác. Ngược lại, Phật giáo có dành chỗ cho hành giả suy tư, chứng nghiệm lấy những giáo lý cao thâm của nhà Phật qua quán chiếu hay thiền định. Bởi vậy, khi du nhập vào một xã hội lành mạnh bình thường, đang tìm hướng phát triển đi lên, thì Phật giáo tỏ ra rất thích hợp, bởi tính chất bao dung, cởi mở, mềm dẻo, không đe dọa, không áp đặt, không cưỡng ép, khác hẳn với các tôn giáo độc thần đặc khối khác, thường chỉ bành trướng được là nhờ vào hậu thuẫn quân sự hay chính trị. Ðiều này đã giải thích sự du nhập dễ dàng, tự nhiên, và sự phát triển rộng rãi và sâu xa trong các xã hội khác nhau tại các nước nói đến trong phần trên.

Giáo lý nhà Phật có tính chất rất nhân bản và thực tế. Ðiều này cho thấy rõ ảnh hưởng tốt đẹp đã đóng góp vào sự phồn vinh cũa các xã hội như Trung Hoa, Nhật Bản, từ văn chương, thi phú, qua âm nhạc, hội họa, cho đến điêu khắc, kiến trúc.

Một nhận định khác khi xét tới những bước thăng trầm của Phật giáo là bản chất của tôn giáo này. Bản chất này là một xu hướng hướng nội đặt ưu tiên vào sự tự tu tập, sửa mình của từng cá nhân, qua quán chiếu và thiền Phật giáo là nhận định khi nhìn vào bản định, tự mình giác ngộ lấy mình, sao cho mở được Tâm Phật có sẵn trong người, để đạt được lòng Từ Bi Hỷ Xả đối với chúng sinh. Người Phật tử phải làm công việc này trước tiên, trước khi làm gì với đồng loại bên ngoài xã hội. Mà nếu có làm gì cho mọi người thì cũng chỉ có thể giúp họ tự tu tập lấy như mình để tự giải thoát, chứ không thể ép buộc được. Xu hướng này khác xa với xu hướng hướng ngoại của một số tôn giáo khác, lấy mục tiêu đầu tiên và chính yếu là lôi kéo mọi người vào con đường của tín ngưỡng mình, không cần phải suy nghĩ, chỉ cần tin tưởng vào một số tín điều võ đoán, và nếu cần, bằng cưỡng chế áp đặt. Bởi vậy, nếu hoạt động chính trị là một chuyện đương nhiên và cần thiết cho sự sinh tồn của các tôn giáo ấy, thì dường như điều đó không chắc có thích hợp cho sự phát triển của Phật giáo. Nhìn vào những thăng trầm của Phật giáo ta thấy khi Phật giáo đã liên quan sâu rộng vào những chuyện thế tục - tranh dành ảnh hưởng chính trị, nắm giữ quyền chính, làm kinh tài - thì khó mà giữ được giới hạnh (trì giới là hạnh quan trọng hàng đầu của tăng nhân) của các cá nhân tu sĩ, và kỷ cương của tăng đoàn. Tăng đoàn sẽ không còn có những bậc tu hành đạo hạnh cao dày, tinh thông Phật học, mà có khi chỉ có thêm nhiều tu sĩ giả hiệu, xu thời, ăn bám. Phật pháp không còn được tưới tẩm cho tốt đẹp thêm bởi những vị chân tu, uyên bác mà sẽ chỉ tàn lụi đi vì không còn được sự kính trọng của dân chúng. Mâu thuẫn và chia rẽ nội bộ sẽ sẩy ra. Các pháp nạn xẩy ra tại Tích Lan, Trung Hoa, Tây Tạng và cả Việt Nam vào cuối đời nhà Trần dường như đã minh chứng điều ấy.

Dầu sao chăng nữa, Phật giáo, với tất cả những giáo lý thâm sâu, cao cả, huyền diệu, cũng chỉ là một hình thái sinh hoạt của xã hội, và dầu muốn dầu không, phải theo số phận nổi trôi của dân tộc đất nước. Ðịnh mệnh một nước phần lớn tùy thuộc vào giai cấp lãnh đạo, thành phần trí thức, những người định đoạt không khí sinh hoạt và hướng đi của dân tộc. Như ta đã thấy, Phật giáo, vì bản chất không thể và cũng không nên trực tiếp tham gia chính sự, mà chỉ có thể ảnh hưởng vào chính sự, thì số phận và tương lai đạo Phật tùy thuộc rất nhiều vào nhà nước. Liên hệ đó không phải là một mối tương giao một chiều. Ðiều đó còn có nghĩa là khi những giáo lý của nhà Phật, những đạo đức (ethics) và luân thường (morals) của tôn giáo này, được giảng dậy sâu xa rộng rãi trong mọi tầng lớp dân chúng, bởi những vị cao tăng tài ba học rộng, đạo cao hạnh cả, thấm nhuần đến cả các nhà trí thức, các bậc lãnh đạo, thì tương lai và số phận của đạo Phật sẽ rất tốt đẹp. Ðiều này đã được thấy rõ trong nhiều thời đại của Phật giáo tại các nước như Ấn độ, Tích Lan, Nhật Bản. Bàn về sự thịnh suy của Phật giáo, người ta lại nhớ lại lời Phật dậy: Chỉ có mình mới có thể cứu (giải thoát) được mình. Ta thấy rõ, điều này chỉ có thể xẩy ra khi tăng đoàn có nhiều vị chân tu, tài cao học rộng, đạo cao hạnh cả. Tồn vong Tăng đoàn là yếu tố nòng cốt của sự của Phật giáo vậy. Nếu đối với người Phật tử, thứ tự quan trọng của tam quy là Phật, Pháp, và Tăng, thì đối với giáo hội, trong ba Bảo (chữ Bảo cũng có nghĩa là bảo vệ) Tăng Bảo có lẽ phải có một địa vị quan trọng hàng đầu.

Bây giờ chúng ta hãy thử nhìn vào thế giới Tây phương (Âu Châu, Bắc Mỹ và Nam Mỹ) xem Phật giáo có thể có một vai trò gì trong tương lai.

Như ta đã thấy Tây phương đã biết đến Phật giáo từ nhiều thế kỷ trước nhưng có một cái nhìn rất sai lầm qua lăng kính của chủ nghĩa thực dân và Cơ đốc giáo của họ. Phải sang đến thế kỷ thứ 20, nhất là kể từ 1950, khi đức Dalai Lama thứ 14 cùng cả ngàn tăng chúng chạy sang Ấn độ, thì Tây phương mới hiểu rõ Phật giáo nhờ nỗ lực hoằng pháp của các bậc chân tu Á châu. Nhiều trung tâm Phật giáo đã được thành lập như:

- Soto Zen Center, Pháp 1967, thiền sư Taisen Deshimaru

- Samye Ling, Scottland 1968, Choyam Trumpa Rimpoché

- Dzogchen Choling, 1973 London, Sogyal Rimpoché

- Kagyu Ling, Dordogne 1975, Khyentsé Rimpoché

- Kagyu Ling, Bourgogne 1976, Kalú Rimpoché

- Nichiren Peace Pagoda, London 1980, Nichidatsu Fuji

- Làng Hồng, Bordeaux 1982, Thích Nhất Hạnh

Ðến nay thì Phật giáo đã trở thành một tôn giáo, hay ít ra cho đến bây giờ, một hệ thống tâm linh học, triết học siêu hình nghiêm minh, đứng đắn để cho các học giả thức thời phải để tâm nghiên cứu, vì nó đã hấp dẫn được một số khá đông tín đồ. Tại sao vậy? Tại sao Tây phương, nằm trong một thành trì kiên cố của một nền văn minh Du Ðà Cơ Ðốc (Judea Christian) dựa trên một hệ thống triết học Cổ La Hy, có thể gọi là đỉnh cao trí tuệ loài người, với những hiền triết thánh nhân (wise men) như Socrates, Aristotle, Plato, Spinoza, với hai tôn giáo Cơ Ðốc và Islam (Hồi giáo) đã từng lan tràn khắp thế giới, cộng thêm một nền Khoa Học khổng lồ mình đồng da sắt tiến nhanh vượt bực, mà lại có những khe kẽ cho một tôn giáo như Phật giáo xâm nhập vào?

Có người nghĩ rằng(6), đã từ ba trăm năm nay, triết học Tây phương đã từ bỏ thiên chức cội nguồn là tìm tới Hiểu Biết Khôn Ngoan (source of wisdom) cho con người, mà đã chỉ chú tâm vào Kiến Thức (knowledge) mà thôi. Khoa học, con đẻ của Kiến Thức, trưởng thành rất nhanh đã lấn át cả Triết học. Thành ra mục tiêu đi tìm kiếm hạnh phúc cho con người như tự do, công bằng, bác ái, an lạc cho tâm hồn của Triết học đã bị quên lãng. Nói cách khác đúng hơn, là vai trò này của Triết học đã bị một ngành của Khoa học soán đoạt: đó là ngành Chính trị và Xã hội học. Ngành này trong thế kỷ vừa qua đã lại đẻ ra hai quái thai chết yểu: chủ nghĩa Phát Xít Quốc Xã và chủ nghĩa Mác Xít Không Tưởng. Lại trong khi ấy, tôn giáo Tây phương (Cơ Ðốc và Islam) cũng đang bị khủng hoảng dữ dội. Căn bệnh trầm kha của tôn giáo độc thần này là sự mâu thuẫn triết học, rất khó giải thích, giữa một đằng là một Thượng Ðế Chúa Tể (hay Chúa, God) toàn thiện, toàn mỹ, toàn năng và đằng kia là sự hiện hữu của Tội Lỗi Ma Quỷ xấu xa (sin, evil, Satan). Chúa đã toàn thiện, toàn năng và tạo ra muôn loài trong thế giới này thì sao lại còn có Tội Lỗi Ma Quỷ ? Hai điều này loại trừ lẫn nhau (mutually exclusive), có cái này thì không có cái kia, không thể cả hai cùng có được. Ngoài ra, Khoa học mỗi ngày lới một lánh xa Tôn giáo vì nhiều khám phá khoa học đi ngược với một số tín lý giáo điều của Tôn giáo. Nỗi khổ tâm khó chịu nhất của Tôn giáo là mâu thuẫn không dung hòa được giữa thuyết Tiến Hóa (Darwinism) và thuyết Sáng Tạo (Creationism), giữa Vật Lý học và Sách Sáng Thế Ký. Thái độ bây giờ của các nhà khoa học đối với tôn giáo là kính nhi viễn chi(7). Thêm vào đó, quá khứ nặng nề nhiều tội ác của Tôn giáo cũng đã gây ra nhiều mặc cảm tội lỗi, lòng hoài nghi đối với sự hiểu biết khôn ngoan (wisdom) và vai trò chỉ đạo (guidance) của giáo hội, cho tín đồ Tây phương. Tất cả điều đó đã gây nên một khoảng trống không (vacuum) và Phật giáo đã tự nhiên điền vào khoảng trống không đó, như một nhà khoa học gia Tây phương đã nói (“La Nature a horreur du vide” - Lavoisier).

Sự gặp gỡ giữa Phật giáo và văn minh Tây phương sẽ ra sao, Phật giáo sẽ có thể đóng góp gì vào nền văn minh Tây Phương? Tây phương đã càng ngày càng lưu tâm đến Phật giáo không phải chỉ vì cái định luật vạn vật hấp dẫn (gravity) nói trên, mà là vì đã thấy giá trị thực chất của tôn giáo này.

Người Tây phương đã thấy tôn giáo này, tự nó không phải là một đối thủ muốn tranh dành ảnh hưởng với, không phải là mối đe dọa cho, bất kỳ một tôn giáo nào khác. Ðức Dalai Lama đã nói: “Tôi đến Tây phương không phải để kiếm thêm một hai tín đồ Phật giáo, mà chỉ để chia sẻ kinh nghiệm về sự hiểu biết khôn ngoan (wisdom) mà đức Phật đã tìm thấy từ cả ngàn năm nay cho những ai muốn biết”(8) . Ngoài ra, thế giới bây giờ đã có một hiểu biết đúng đắn hơn về tôn giáo này, khác với cả ngàn năm trước đây. Bởi vậy, tuy có thể vẫn có nhiều người không đồng ý với giáo lý nhà Phật, hay hiểu sai tôn giáo này, như một vị giáo chủ đã viết trong một thông điệp cho tín đồ, nổi tiếng gần đây, Phật giáo chắc chắn sẽ không thể bị cho là một mê tín thờ thần tượng, ma quỷ như trước, để bị tận diệt như đã xẩy ra tại Ấn độ, Tích Lan, Nam Dương ngày trước. Phật giáo sẽ có cơ tồn tại.

Người Tây phương cũng đã thấy Phật giáo cũng không đi ngược với Khoa Học - bây giờ là nền tảng chính yếu của văn minh Tây phương - trong sứ mệnh tối hậu là đi tìm Chân Lý Tuyệt Ðối (the Absolute Truth). Ngược lại, tuy không đi cùng đường, cũng không khởi hành cùng thời điểm, Phật giáo và Khoa học đã thấy có nhiều điều tâm đắc rất gần nhau (thí dụ tính Không của vạn pháp và Vật Lý Quantum). Hơn nữa Khoa học đã thấy Phật giáo đi trên một con đường của sứ mệnh đi tìm Chân Lý, rất cần thiết cho hạnh phúc nhân loại, mà chính mình (Khoa học) không làm được. Ðó là con đường khảo sát tâm linh - còn gọi là cái Tâm - bằng Quán Tưởng (contemplation of the consciousness) để tìm ra Chân lý Tuyệt đối cũng gọi là Chân Như (the Truth). Quán tưởng để thấy được tính Không (emptiness) của vạn pháp, tính Vô Ngã của các tướng (manifestation). Khi thấy được mọi tướng đều là không, nhìn thấy tính vô ngã của các tướng là đã diệt sạch mọi đau khổ, phiền não, là đã đạt đến Niết Bàn(9), hay là một hạnh phúc vô biên cho con người. Sự Thật này đã được nhiều vị cao tăng (A La Hán, Bồ Tát) chứng nghiệm bằng thực nghiệm (empirical) và không thể chứng minh (prove, demonstrate) bằng thí nghiệm (experiments) khoa học được. Những ngành chuyên khoa của Khoa Học như Tâm Lý học (psychology), Phân Tâm học (psychoanalysis) rồi Thần Kinh học (neurology) không chứng minh được mà cũng không phản chứng minh để bác bỏ được những chứng nghiệm ấy. Lãnh vực khảo sát tâm linh (consciousness), cho đến nay, không phải là môi trường hoạt động của Khoa Học. Bởi vậy Phật giáo có thể giúp nền Triết học Tây phương trong lãnh vực ấy để cùng với Khoa Học - con đẻ của Triết học - tiến thêm trên đường sứ mệnh tìm Chân Lý đem lại hạnh phúc cho nhân loại. Sau nữa, những đạo lý (ethics, morals) của nhà Phật, hệ luận cuả giáo lý dựa trên Từ bi, Hỷ xä, Khiêm cung, Bao dung, chắc chắn sẽ làm cho con người Tây phương nói riêng và xã hội Tây phương, nói chung, trở nên tốt đẹp, an bình hơn.

Ðến đây, ta có thể kết luận với một nhận định không quá lạc quan cho tôn giáo này. Phật giáo, một Tôn giáo hay một hệ thống Siêu Hình học tùy nhãn quan mỗi người - điều này thực ra không quan trọng - sẽ là một yếu tố, một lực lượng quan trọng cho nền văn minh Tây phương. Phật giáo sẽ không còn có thể bị tiêu diệt. Ngược lại, Phật giáo sẽ cùng với Khoa học, song song, không hội tụ mà cũng không phân kỳ, cùng đi trên sứ mệnh đi tìm Chân Lý, hầu đem tới Hạnh Phúc cho Nhân Loại ./.

Đào Viên

[Source: http://daovien.wordpress.com/2009/03/ - 3/2009]


(1) Tại Pháp, theo một thống kê gần đây, với một số tín đồ lên tới 5 triệu người, Phật giáo đã đứng hàng thứ ba, chỉ sau Cơ Ðốc giáo La Mã và Hồi giáo mà thôi; hơn Cơ Ðốc Tin Lành và Do Thái giáo, điều mà cách đây nửa thế kỷ, không ai ngờ tới.

(2) Guillaume de Rubruck, giáo sĩ Jesuite, người Pháp

(3) Nguyễn Lang ( Việt Nam Phật Giáo Sử Luận)

(4) Hoàng Xuân Hãn (Lý Thường Kiệt)

(5) Nguyễn Văn Trung (Chủ Ðích Nam Phong)

(6) Jean François Revel (Le Moine et le Philosophe).

(7) Reeves, De Rosnay, Coppens & Simonnet (Origines) và Stephen Hawkins (A Brief History of Time)

(8) Matthieu Ricard (Le Moine et le Philosophe)

(9) Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng. Nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như Lai (kinh Kim Cương, Gươm Báu Cắt Ðứt Phiền Não)

Không có nhận xét nào: