29 thg 2, 2008
24 thg 2, 2008
23 thg 2, 2008
Enya - Only Time
Who can say where the road goes,
Where the day flows, only time?
And who can say if your love grows,
As your hearth chose, only time?
Who can say why your heart sights,
As your live flies, only time?
And who can say why your heart cries
when your love lies, only time?
Who can say when the roads meet,
That love might be ,in your heart?
and who can say when the day sleeps,
and the night keeps all your heart?
Night keeps all your heart.....
Who can say if your love groves,
As your heart chose, only time?
And who can say where the road goes
Where the day flows, only time?
Who knows? Only time
Who knows? Only time
at
10:41
0
comments
Labels: NhạcNgoạiQuốc
22 thg 2, 2008
21 thg 2, 2008
20 thg 2, 2008
Huỳnh Ngọc Chiến
Nhân “Ngày trở về” của Phạm Duy
Với nhan đề này tôi hoàn toàn không có ý nói đến ngày nhạc sĩ Phạm Duy quay trở về định cư trên đất nước Việt Nam. Tôi cũng không muốn nói đến đĩa CD Ngày trở về trình bày của những ca khúc của người nghệ sĩ tài ba này, mà trong đó vẫn còn vài ca khúc mà ca từ lẫn giai điệu vẫn chưa hoàn toàn được diễn đạt một cách trọn vẹn và tương xứng. Đương nhiên tôi cũng không muốn nói tập hồi ký của ông đi kèm với đĩa CD, mà theo tôi là khá nhạt đối với những ai đã từng yêu nhạc Phạm Duy, và do đó, đã tìm hiểu ông từ trước năm 1975. Tập hồi ký quá ngắn đó và đĩa CD chưa nói được gì về âm nhạc của một người nhạc sĩ đầy tài năng đã từng làm say đắm nhiều thế hệ ở miền Nam. “Ngày trở về” tôi muốn nói ở đây chỉ đơn giản là “ngày trở về của âm nhạc” trong lòng những ai thật sự thích âm nhạc thuộc thể loại ca khúc, trong nền âm nhạc Việt Nam. Đĩa CD nhạc Phạm Duy dù chưa thật đạt (dĩ nhiên là chỉ theo cảm nhận chủ quan, và ắt hẳn, phiến diện của tôi), nhưng vẫn như một trận mưa rào tưới xuống mảnh đất âm nhạc khô cằn, quá đỗi khô cằn hiện nay. Chưa bao giờ một nền văn hóa luôn tự hào về quá khứ bốn ngàn năm văn hiến của chúng ta lại phải chứng kiến một sự sa sút đến thế về văn hóa, cụ thể là âm nhạc, như thời hiện đại. (Tôi chỉ muốn nói đến loại âm nhạc được sáng tác chủ yếu từ sau “Thời mở cửa” và được phổ biến tràn lan trên các phương tiện thông tin đại chúng). Bao nhiêu năm qua, trên các phương tiện thông tin đại chúng, vẫn cứ nhan nhản những ca khúc thời thượng mà dường như tác giả của nó chưa hiểu gì cả về âm nhạc lẫn tiếng Việt! Các ca khúc với ca từ ngô nghê và giai điệu đầy dung tục nhưng được ưa chuộng này, cùng với sự trợ lực vô tình của nhiều phương tiện thông tin đại chúng, đã góp phần đẩy nền âm nhạc Việt Nam lún vào hố sâu ngày càng tệ hại. Dĩ nhiên vẫn có một số ca khúc nghiêm túc, sâu lắng được sáng tác trong khoảng hai thập niên gần đây, mà đến bây giờ vẫn còn làm cảm động người nghe. Nhưng tiếc thay những ca khúc đó lại quá hiếm hoi và không được công chúng đón nhận đúng mức. Càng đáng tiếc hơn nữa khi những ngọn lửa sáng tạo kia lại quá yếu ớt, cứ chập chờn như muốn tắt đi, hoặc đã tắt hẳn, giữa bóng đêm mù mịt phủ vây của loại ca khúc đầy dung tục. Trước đây, trong điều kiện bắt buộc của lịch sử, chúng ta luôn lo “đánh” những loại âm nhạc mà ta xếp vào loại “nọc độc văn hóa” vì sợ nó tác dụng xấu đến đời sống xã hội. Nhưng giờ đây, theo tôi, chính những loại nhạc thời thượng đầy sự dung tục dễ dãi, một khi lan truyền rộng rãi trong đời sống văn hóa mới thực sự là loại hình văn hóa nguy hiểm trong việc tàn phá sức cảm thụ âm nhạc chân chính của thế hệ trẻ. Nó đang gây hoang phế cho nền văn hóa và sẽ làm tê liệt mọi suối nguồn sáng tạo. Tôi có cảm tưởng nó như là một loại “sa mạc văn hóa” đang ngày càng lan rộng dần. Trận lũ quét qua dù tàn phá lớn, nhưng vẫn có ích để con người cày bừa canh tác trên đám phù sa để lại. Còn sa mạc chỉ có thể đem lại sự cằn cỗi đầy chết chóc. Nó làm xơ cứng đời sống văn hóa hiện tại đã đành, lại còn có nguy cơ hủy diệt luôn mọi mầm mống sáng tạo trong mai sau. Đó là điều cực kỳ nguy hiểm xét từ góc độ văn hóa. Đừng để khu vườn âm nhạc Việt Nam trong tương lai chỉ có toàn những loại xương rồng dị dạng! Sức cảm hóa của âm nhạc, tự ngàn xưa, đã được người xưa lưu tâm và dùng làm công cụ giáo dục. Người xưa cho rằng thông qua âm nhạc có thể đoán được phần nào sự thịnh suy của một nền văn hóa. Sự đơn bạc, hời hợt của thể loại ca khúc hiện nay khiến cho bất kỳ ai quan tâm đến văn hóa đều không khỏi cảm thấy đau lòng. Thể loại khí nhạc là điều quá xa vời với một nền văn hóa chưa có bề dày lịch sử về âm nhạc như Việt Nam, nên chúng ta chỉ còn trông chờ vào các ca khúc. Và ta thấy được gì từ phần lớn các ca khúc phổ biến hiện nay? Giai điệu thì hời hợt, ca từ thì thô ráp, ngớ ngẩn như những bài văn xuôi của trẻ con mới tập đặt câu hoặc như lời dịch vụng về từ một ca khúc nước ngoài. Tây không ra Tây, mà Tàu cũng chẳng ra Tàu. Ca khúc là để hát. Mà hát, suy cho cùng, cũng chỉ là cách diễn đạt những gì ta muốn nói bằng ngôn ngữ, qua phương tiện nghệ thuật. Cho nên lối trình diễn chân chính trong nhạc Việt luôn nhẹ nhàng, khác hẳn với kiểu trình diễn “lên gân”. Chỉ những ca sĩ cảm thụ được điều này mới lột được phần hồn của bản nhạc. Ca từ luôn giúp người nghe cảm thụ nhiều hơn về phần sâu lắng trong ca khúc, phần sâu lắng mà thông thường ta chỉ cảm thụ được một cách mơ hồ qua giai điệu. Chính vì trong ca khúc, giai điệu không đủ sức diễn tả nội dung như các thể loại nhạc không lời, nên phải nhờ tới ca từ. Ngôn ngữ của mỗi đất nước, mỗi dân tộc đều có một linh hồn riêng, cho nên giai điệu và ca từ trong mọi ca khúc phải thể hiện được phần hồn đó thì mới có thể đi vào lòng người, mới có được sắc thái riêng. Ca khúc chân chính phải hòa quyện vào và nâng cao được nhạc tính hàm ẩn trong ngôn ngữ, nhất là một ngôn ngữ giàu nhạc điệu như tiếng Việt. Đó là phần đang thiếu trầm trọng trong ca khúc hiện nay. Có nhiều ca khúc có ca từ quá bóng bẩy và giàu nhạc điệu dễ làm ta lóa mắt trong buổi gặp ban đầu, nhưng sau vài lần nghe, nó dễ cho ta cảm tưởng sáo rỗng, sự sáo rỗng bị cái tài hoa của người nghệ sĩ che lấp đi. Cũng như khi còn đi học, ngôn ngữ của Cung oán ngâm khúc dễ làm ta bị mê hoặc hơn cả Truyện Kiều. Nhưng khi đọc nhiều lần, ta thử bóc lớp vỏ phù hoa của ngôn ngữ để tìm vào bên trong thì lại dễ dàng thất vọng: nó thiếu chất sống của ngôn ngữ đời thường. Tôi luôn thích những ca từ đơn sơ mà tinh tế, mượt mà mà không sa vào sáo rỗng, phù phiếm. Và chính trong rất nhiều các ca khúc Phạm Duy (không phải tất cả), tôi đã tìm được điều ấy. Điểm qua khối lượng đồ sộ các ca khúc Phạm Duy là điều vượt quá khuôn khổ của một bài báo. Tôi cũng không bàn đến một Phạm Duy có tài thả nhạc vào thơ để nhiều bài thơ bình thường bỗng biến thành châu ngọc; hoặc thổi hồn tiếng Việt vào các giai điệu của những nhạc sĩ vĩ đại như F. Schubert, R. Schumann, J. Strauss… để tiếng Việt được chắp cánh bay cao hơn nữa trên nền các giai điệu bất tử đó. “Chiều buông nhẹ xuống đời, người tình tìm đến người, thấy run run trong chiều phai… Chiều nay lỡ ghé môi trên mi sầu…” [1] . Trong bài viết này, tôi chỉ muốn nhắc qua một vài ca từ trong dăm ca khúc đã gây cho tôi những ấn tượng sâu đậm ngay từ ngày còn đi học. Như là kỷ niệm êm đềm thời quá khứ. Từ ngày còn là cậu bé lớp đệ thất (tức lớp 6 bây giờ), tôi đã phải bao lần gục đầu thẫn thờ cùng ca khúc “Chiều về trên sông”, giữa những buổi chiều rất mênh mang ở một chốn quê xa. Nơi đó cũng có dòng sông, dù không lớn lắm nhưng vẫn rất mênh mông trong tâm hồn cậu học trò mới lớn. “Chiều buông trên dòng sông Cửu Long, như một cơn ước mong ơi chiều. Về đâu ơi hàng cây gỗ rong, nghiêng mình trong bóng sông yêu kiều? Buồn tôi không vì sao bỗng dưng, theo đò ngang quá giang thương chiều… Hãy cất tiếng ca cho đời thêm (ý) buồn, hãy cất tiếng ca cho lòng thôi khô héo…” Và bóng chiều rơi trên sông Cửu Long đó có lẽ vẫn mãi mãi là bóng chiều rơi trong hồn những bạn thuộc thế hệ tôi, trên mọi dòng sông quê nhà. Ca từ trôi theo giọng mineur nghe như bàng bạc không khí ngậm ngùi trong hồn thơ Huy Cận: ”Nắng xuống sầu lên sâu cao chót vót, sông dài trời rộng bến cô liêu … Chim nghiêng cánh nhỏ, bóng chiều sa. Hồn quê dờn dợn vời con nước. Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” (“Tràng giang” - Huy Cận). Ca khúc đó, lời thơ đó đã giúp tôi tìm được “hồn quê” theo cách của riêng mình. “Hồn quê” đó vẫn luôn có một cái gì đó làm ta lưu luyến đến lạ lùng, trên những bờ lúa nương khoai, trên những chiếc áo sờn vai, trên những tia nắng chiều hôm. “Ruộng khô có những ông già rách vai, cuốc đất bên đàn trẻ gầy, có người bừa thay trâu cày… Chiều rơi thoi thóp trên vài luồng khoai, hiu hắt tiếng bà mẹ cười, vui vì nồi cơm ngô đầy.” Và hình ảnh quê hương càng ngọt ngào và tha thiết hơn trong tôi, qua hình ảnh ánh đèn dầu treo bóng mẹ gầy lên vách: “Con thấy mẹ yêu đã già, hẳn là miền quê những năm vừa qua, chiếc bóng in trên vách nhà, một ngày một sương tóc chưa phai mờ”. Rồi giờ Việt văn, cô giáo lại làm chúng tôi lặng người khi nghe cô hát bản “Tình ca”: “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, mẹ hiền ru những câu xa vời. À à ơi! Tiếng ru muôn đời… Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui khóc cười theo vận nước nổi trôi, nước ơi… Tiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi, thoắt nghìn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi”. Tiếng Việt đã theo giai điệu ngọt ngào trôi bềnh bồng vào tâm hồn chúng tôi, để mỗi khi đến giờ Việt văn nghe cô giảng, chúng tôi lại nhớ đến “mẹ hiền ru những câu xa vời. À à ơi! Tiếng ru muôn đời… Một yêu câu hát truyện Kiều, lửng lơ như tiếng sáo diều (ư diều) làng ta ”. Tuổi trẻ chúng tôi đã tìm đến với Phạm Duy lúc ban đầu một cách giản dị như thế đó. Như những cậu bé nhà quê rong chơi trên đường thôn để tìm những đóa hoa dủ dẻ. Mộc mạc nhưng thơm lựng. Rồi về sau chúng tôi lại cùng theo ông đi qua những bản tình ca nồng nàn đau đớn, Hoan ca trong sáng vui tươi, Mẹ Việt Nam, Con đường cái quan chất ngất tình quê và hồn sông núi… Còn nhiều thể loại nữa mà tôi không thể trình bày ra đây trong khuôn khổ một bài báo. Nhưng điểm xuyên suốt qua mọi ca khúc đó vẫn là sự mộc mạc và tinh thuần trong phần hồn tiếng Việt đã được ông kết hợp một cách hài hòa, sâu lắng. Đó là sự thiếu vắng đáng đau xót trong ca từ của phần lớn ca khúc hôm nay. Các ca khúc Phạm Duy được phép trình bày trở lại, dù với số lượng chưa nhiều và chưa phải toàn là những bài hay nhất, nên chắc chắn không đủ sức tưới thấm cho một vùng đất quá đỗi khô cằn, nhưng với tôi đó là dấu hiệu đáng mừng cho thể loại ca khúc chân chính đang hồi sinh, một thể loại âm nhạc đã từng tồn tại và phát triển tuyệt vời tại Việt Nam từ thời tiền chiến, trong buổi ban đầu tiếp xúc với âm nhạc phương Tây. Tôi chỉ mong rằng, cùng với sự xuất hiện của ca khúc Phạm Duy, sẽ là “ngày trở về” của phần hồn tiếng Việt trong các ca khúc mới của Việt Nam, trong những ngày gần đây nhất. © 2008 talawas
[1]Tất cả những lời trích dẫn trong bài này, nếu không chua xuất xứ, đều được lấy từ các ca khúc của Phạm Duy.
bản để in Gửi bài này cho bạn
at
07:00
0
comments
Labels: SuyNgẫm
18 thg 2, 2008
16 thg 2, 2008
15 thg 2, 2008
|
| |||||||||||||||||||||||||
at
18:46
0
comments
Labels: NhạcViệtNam
12 thg 2, 2008
Năm chuột ta, nhắc chuyện tây
Chắc có bạn đọc biết chuyện « Người thổi sáo » (...) Tôi nhắc câu chuyện chuột này, nhưng cũng muốn nói đến những liên tưởng...
Năm chuột ta,
nhắc chuyện tây
Bùi Trọng Liễu
Năm Tý, nhắc đến một câu chuyện phương Tây, và … truyện Tam quốc.
Chắc có bạn đọc biết chuyện « Người thổi sáo », đại khái như sau : Thuở xưa, ở thành phố Hameln nước Đức, có xảy ra tai hoạ chuột, chuột nhiều đến mức chỗ nào cũng có, chúng gặm khoét phá phách đến mức dân chúng không chịu nổi ; ông thị trưởng và chức sắc mới treo biển cầu người có giải pháp trừ chuột. Một ngày kia, có một chàng trai từ đâu đến, nói có phép trừ chuột, nhưng hỏi muốn biết phần thưởng ra sao. Thị trưởng và chức sắc hứa nếu thành công sẽ trả một ngàn đồng tiền vàng. Hai bên giao ước xong, chàng trai kia bèn rút trong bọc ra một chiếc sáo, và bắt đầu thổi, vừa thổi sáo vừa đi qua khắp phố phường. Chuột nghe tiếng sáo, như bị hấp dẫn mê mẩn, chuột to chuột nhỏ kéo nhau ra đường theo người thổi sáo, dẫn chúng ra sông lội xuống nước. Đàn chuột theo sau cũng lội xuống chết đuối hết. Khi đã diệt xong chuột, người thổi sáo trở lại lĩnh thưởng. Thoát được nạn chuột, cả thành phố mở tiệc ăn mừng. Nhưng chẳng ai nghĩ đến lời hứa trả công cho « người thổi sáo ». Chàng này mấy lần nhắc ông thị trưởng và các chức sắc về món ngàn đồng tiền vàng, nhưng họ khất lần. Họ nghĩ rằng món tiền to như vậy, để tiêu xài hội hè cho sướng, cần gì đến lời hứa. Hiểu tâm địa bọn kia, « người thổi sáo » bèn rút trong bọc ra một cây sáo khác. Thổi lên, bao nhiêu trẻ em trong thành phố bị tiếng sáo quyến rũ, như mê hồn, mặc lời khuyên can đe doạ ngăn cấm của mẹ cha, lũ lượt bỏ ra đường bước theo « người thổi sáo » ra khỏi thành, đi mãi đi mãi, không bao giờ trở lại ...
Tôi nhắc câu chuyện chuột này, nhưng cũng muốn nói đến những liên tưởng.
Trước hết, câu chuyện chuột và người thổi sáo này mang tính huyền thoại và tính ngụ ngôn về chữ “Tín”.
Nhưng có thuyết cho rằng nó có một nguồn gốc “thực”, dựa trên sự tích của cái được gọi là cuộc “Viễn chinh chữ thập của trẻ em” (la Croisade des enfants), xảy ra giữa hai cuộc viễn chinh chữ thập “chính thức” thứ bốn và thứ năm (1) : tuy gọi là “của trẻ em”, mà cũng không phải hoàn toàn là của trẻ em ; tuy gọi là “một”, mà kỳ thật là “hai”. Theo mấy sử gia ngày nay thì “Viễn chinh chữ thập” này, ngoài một số trẻ em, còn có sự tham gia của những nông dân nghèo sống bên lề xã hội trong cảnh phụ thuộc, nghĩa là những người mà thuở đó tiếng la-tinh gọi là pueri, gây nên sự lẫn lộn với nghĩa “trẻ em”. Thêm vào đó, “Viễn chinh chữ thập của trẻ em” không phải chỉ có một cuộc mà là có hai cuộc : một cuộc khởi đầu từ Đức, và một cuộc khởi đầu từ Pháp ; có sử gia dùng chữ “đoàn” để bớt sự phân biệt, vì cả hai xảy ra cùng khoảng thời gian (1212) và cùng mục tiêu ; nay tôi cũng tạm dùng từ này : “Đoàn Đức ” và “Đoàn Pháp” cho gọn.
Đoàn Đức là do một thiếu niên tên là Nicolas (tiếng Đức có lẽ viết là Nikolaus?), có nguồn thì bảo là một lái buôn, có nguồn lại bảo đó là một thiếu niên chăn cừu chạc tuổi 14, ở Köln, nói rằng cậu ta thấy một vị thiên thần (ange) hiện ra, kêu gọi cậu ta đi giải phóng Thánh địa (nơi có mộ Chúa Ki-Tô, lúc đó đang trong tay người Hồi giáo ở Cận Đông). Nicolas có tài hùng biện, trong vài ngày lôi cuốn được khoảng hai vạn trẻ em và người lớn. Dọc đường có người theo thêm, có lúc con số lên đến khoảng 3 vạn. Cậu ta hứa hẹn rằng Chúa Trời sẽ ban một phép lạ : Khi nào Đoàn đến thành phố-cảng Genova (Ý), nước biển Địa Trung hải sẽ rẽ ra làm hai (2), để Đoàn có thể tiếp tục đi bộ tới tận Thánh địa! Đoàn này đi dọc theo sông Rhin, qua nhiều thành phố. Họ nghèo không có phương tiện hậu cần, đa số không có giày dép, quần áo ấm, lương thực dự trữ, nên phải xin ăn ở dọc đường khi qua các làng mạc. Dân các làng cũng cố giúp, nhưng họ nghèo; mà năm ấy lại mất mùa, nên số người trong Đoàn chết đói và chết bệnh rất nhiều. Rồi khi vượt qua dãy núi Alpes, thời tiết xấu, bị tai nạn, kiệt lực, khi tới Genova thì chỉ còn khoảng 7 ngàn người. Dù cầu nguyện, cũng chẳng thấy phép lạ (nước biển rẽ ra làm đôi), đa số thất vọng bỏ cuộc, muốn trở về Đức, nhưng không chịu nổi gian nan dọc đường, lại chết thêm rất nhiều; một số thiểu số đành làm thuê làm mướn tại chỗ; những trường hợp hãn hữu trở về quê thì bị người ta giễu cợt. Nicolas và khoảng một ngàn còn lại cố đi tiếp đến Pisa. Ở đó, khoảng một trăm “đoàn viên” tìm được hai chiếc tàu nhận chở đi Thánh địa, nhưng chẳng ai biết là rốt cục tàu đi đến đâu. Số còn lại theo Nicolas đi bộ tiếp, chết đói, chết bệnh, bị giặc cướp giết, đa số phụ nữ bị bắt cóc, phải làm gái điếm trong những nhà thổ, cánh nam giới thì bị bắt làm nô. Không thấy sử biên niên nói đến Nicolas nữa, trừ một vài nguồn kể là rốt cuộc cậu ta đến được Thánh địa, chiến đấu trong đám quân sĩ của cuộc viễn chinh chữ thập thứ 5 và trở nên giàu có khi trở về Köln. Chắc là bịa.
Còn câu chuyện Đoàn Pháp, thì như thế này. Tháng sáu năm 1212, một thiếu niên chăn cừu ở Cloyes tên là Etienne kể rằng cậu ta thấy Chúa Trời hiện ra, có “thông điệp” cho vua Pháp. Tin đồn ra, khoảng 3 vạn người, trẻ em và người lớn, từ khắp nơi theo cậu ta đổ dồn về kinh thành, thuyết vua Philippe Auguste cho phương tiện để tiến hành cuộc viễn chinh. Vua cho diện kiến, nhưng vua không đồng ý cho thực hiện cuộc viễn chinh, và khuyên giải tán phong trào. Không được sự giúp đỡ của nhà vua, Etienne và Đoàn của cậu ta kéo nhau đi từ Vendôme, tiến xuống phía Nam, để đến cảng Marseille, và hy vọng rằng ở đó nước biển Đại Trung hải cũng rẽ làm đôi để họ có thể đi bộ đến Thánh địa (cũng lại câu chuyện phép lạ, như câu chuyện Đoàn của Đức!). Tuy không gặp những trở ngại thiên nhiên trên đường đi từ Vendôme đến Marseille, nhưng đói khát, mệt mỏi và bệnh tật cũng làm chết khoảng hai phần ba đoàn viên trong Đoàn. Và tất nhiên, đến Marseille, dù có thiết tha cầu nguyện Chúa Trời, cũng chẳng thấy nước biển rẽ làm hai. Tuy vậy Đoàn vẫn hy vọng. “May thay”, sau mấy ngày chờ đợi, có hai lái buôn nhận chở Đoàn trên mấy chiếc tàu của họ để sang Thánh địa. Kỳ thật ra, bọn lái buôn này có dã tâm : ra đến biển rồi, chúng nhốt các đoàn viên xuống hầm tàu, tính chở đem bán họ làm nô. Đói khát và bị ngược đãi trên tàu làm chết thêm một số đoàn viên. Mấy ngày lênh đênh trên biển, gặp bão, 2 chiếc tàu trên đoàn 7 chiếc, trôi dạt tới một đảo miền nam nước Ý, cả thủy thủ và đoàn viên đều bị chết đuối. 5 chiếc tàu còn lại chở bọn họ sang Bắc Phi, bán họ làm nô cho người A-rập. Một kết thúc bi thảm.
Đó là gốc gác của câu chuyện chuột.
Nhưng tôi cũng muốn liên tưởng đến các cuộc viễn chinh chữ thập nói chung và rộng hơn. Thánh địa và đặc biệt là Jerusalem đâu có phải là Thánh địa của một đạo, mà là Thánh địa của ba tôn giáo : đạo Do-thái, đạo Ki-tô và đạo Hồi. (Cho nên Jerusalem còn được gọi là “ville 3 fois sainte”, tạm dịch là “thành phố Thánh địa 3 lần”). Trong việc tranh chấp đất đai, có chuyện đạo xen lẫn với chuyện đời, lòng tin xen lẫn với lợi ích và quyền lực.Vì không có khoan dung và chấp nhập chung sống hòa bình, nên mới có sự tranh chấp liên miên đời này qua đời khác, cho đến tận ngày nay. Trong bao nhiêu thế kỉ tranh chấp giữa các quyền lực tín đồ của các tôn giáo khác nhau, mồ hôi, nước mắt và máu đã chảy rất nhiều vì mảnh đất này.
![]() | « Bức tường phía tây » di tích còn lại của «Đền thứ hai » đạo Do-thái ở Jerusalem, còn được gọi là « Bức tường than khóc » (Mur des Lamentations), tuy người đạo Do-thái và đạo Hồi đều không chấp nhận tên gọi này. |
|
Dôme du Rocher, |
Nhà thờ Saint-Sépulcre |
Nhân nói đến Thánh địa và di tích, tôi cũng muốn liên tưởng rằng không thiếu những nơi khác mà khi nhà cầm quyền đổi đạo thì cũng kéo theo đổi đền thờ. Thí dụ như ở Cordoba (Tây-ban-nha). Năm 785, khi vua Hồi giáo chiếm được nơi này, sai mua (?) đất của nhà thờ Thiên chúa giáo San Vincente, và xây trên đó một đền thờ Hồi giáo rất lớn, khởi công vào năm 785 và sau đó mở rộng thêm. Đến năm 1236, khi vua Ki-tô giáo chiếm laị được đất này, thì biến đền Hồi giáo này thành nhà thờ Thiên chúa giáo, còn tồn tại đến nay. Một thí dụ khác: ở Constantinople (ngày nay là Istanbul, Thổ-nhĩ-kỳ), nhà thờ Thiên chúa giáo Haghia Sophia được xây trên nền cũ của đền thờ Apollon (một thần trong thần thoại Hy-lạp cũ), thoạt đầu là vào năm 325 ; sau nhiều lần bị hủy do hỏa hoạn hay loạn lạc, một Nhà thờ Lớn được khởi công xây vào năm 532 và hoàn thành vào năm 537, còn được biết dưới tên gọi (tiếng Pháp) Sainte Sophie. Khi vua Hồi giáo Mehmet II chiếm kinh đô Constantinople này của Đế quốc Byzance (1453), chuyển nhà thờ này thành đền Hồi giáo. Đến năm 1934, dưới nền cộng hòa, đền này trở thành bảo tàng. Ở nước ta, vào năm 1884, cũng có trường hợp Nhà Thờ Lớn Hà Nội, xây trên nền chùa Báo Thiên cũ (3).
|
Bên trong đền Hồi giáo ở Cordoba (Tây-ban-nha) chuyển thành Nhà thờ Thiên chúa giáo cho đến nay. |
Nhà thờ Ki-tô giáo Sainte Sophie chuyển thành Đền Hồi giáo (Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ ), nay là bảo tàng. |
Chung sống hòa bình được thì tốt biết bao. Đất đai công hữu hay tư hữu, chiếm đoạt hay tranh chấp càng nhiều thì càng gây đau khổ. Rồi khi đòi đất, cũng không nên quên những “quyền” sở hữu chồng chất theo thời gian : trước mình thì là ai, trước ai đó thì là ai khác nữa, vv. và vv. ? Câu hỏi này làm tôi liên tưởng đến chuyện ông thánh Quan “đòi đầu”.
Thánh Quan đây là Quan Vũ, đời Tam quốc bên Tàu (Ngụy, Thục, Ngô, thế kỉ thứ 3). Theo Tam quốc chí, ông này là em kết nghĩa của Lưu Bị (sau là vua Chiêu Liệt nhà Thục), theo anh lập nên cơ đồ nhà Thục, sau bị Tôn Quyền (vua nhà Ngô) giết. Người Tàu trọng ông ta là người trung nghĩa, thờ làm thánh; một số người nước ta cũng bắt chước thờ ké. Tôi tóm tắt lý lịch ông ta, theo cách nhìn của tôi : Một lần trong chiến trận, Quan Vũ lạc Lưu Bị, nên phải đầu hàng Tào Tháo. Tào Tháo đãi rất hậu. Đến khi Quan Vũ nghe tin Lưu Bị còn sống, bèn bỏ Tào Tháo để đi theo. Qua năm cửa ải, sáu tướng của Tào Tháo cản không cho đi vì chưa được lệnh thả, Quan Vũ đều chém họ chết. Như vậy là về thủy chung – nói một cách văn vẻ cố tôn vinh – là “gặp thời thế, thế thời phải thế” – còn nói bộc trực – tiếng Pháp là “à géométrie variable”, (tôi không biết dịch chính xác ra tiếng Việt là gì, chỉ nhớ là thời còn chiến tranh, có loại máy bay Mỹ mà ta gọi là “cánh cụp cánh xòe”; còn trong trường hợp này, phải chăng nên dịch là “tùy tiện”?). Khi Lưu Bị lên ngôi vua, phong cho Quan Vũ đứng đầu Ngũ hổ đại tướng, thì ông ta giận không chịu nhận ấn tín, vì lẽ rằng trong đám 5 hổ tướng đó, có tướng Hoàng Trung mà ông ta khinh gọi là một anh lính già xuất thân. Sau sứ giả phải can, ông ta mới chịu nhận ấn. Thế là ông ta tự gán giá trị “đẳng cấp cao” cho mình. Một lần ra trận, ông ta bị trúng một phát tên độc ở cánh tay; danh y là Hoa Đà mổ, thì ông ta không chịu để buộc tay, giả bộ không đau cứ ngồi uống rượu đánh cờ, chìa cánh tay cho Hoa Đà cạo vết thương đến tận xương, được nhận lời khen của Hoa Đà là « Tướng quân là người nhà trời ». Thế là ông ta biết lên gân làm “người hùng”. Vua Thục sai ông ta giữ thành Kinh Châu; vua Ngô (là Tôn Quyền) muốn cầu thân, sai sứ giả sang hỏi con gái ông ta cho con trai mình, thì ông ta nổi giận cự tuyệt trả lời rằng “Con (của) hổ không thể gả cho con (của) chó”. Thế là ông ta tự đánh giá mình là vĩ nhân thế giới – thế giới thuở ấy tất nhiên là Tam quốc và các phiên thuộc, cho nên chưa có các công ty kinh doanh tiểu sử vĩ nhân thời toàn cầu hóa ngày nay – và cho là vua Ngô là không “môn đăng hộ đối”. Và bởi ngỡ mình là vĩ nhân nên làm lỡ việc nước, vì vua Ngô giận sai tướng đánh chiếm thành Kinh Châu; ông ta bị bắt không chịu hàng nên bị chém đầu. Người Tàu thương, cho là trung nghĩa thờ làm thánh. Chả biết tác giả truyện Tam quốc có hóm hỉnh không, khen đấy mà cũng lén chê đấy , vì kể rằng : sau khi ông ta bị chém chết rồi, hồn lang thang, đêm thường hiện làm ma, đòi “trả đầu”. Một hôm, hồn tình cờ gặp nhà sư Phổ Tịnh, ân nhân cũ ; nhà sư bèn hỏi : “Tướng quân đánh nhau với quân Ngô, bị họ chém đầu; nay lại hiện lên mà đòi người khác trả đầu. Lúc tướng quân còn sống, qua năm cửa ải, chém sáu tướng, vậy thì đầu của sáu tướng ấy, đòi ai trả ? ”. Theo chuyện, hồn Quan Vũ liền tỉnh ngộ, tạ và biến đi. Vậy thì hồn ông ta cũng biết phục thiện, làm thánh cũng được đấy chứ.
Khổ nỗi “đòi đất” không giống “đòi đầu”, cho nên dễ kẹt. Nhưng ta vẫn cứ nên mơ ước.
Tết là dịp chúc cho một năm mới, hay xa hơn thế nữa, cho một tương lai tốt đẹp hơn. Vậy, cầu chúc cho có được sự chung sống hòa bình ở tất cả mọi nơi.
Bùi Trọng Liễu
Chú thích:
(1) Các cuộc viễn chinh chữ thập có mục đích giải phóng Thánh địa (nơi có mộ Chúa Ki-Tô, lúc đó đang trong tay người Hồi giáo ở Cận Đông). Tất cả có 8 cuộc Viễn chinh chữ thập « chính thức » (tôi dùng từ « chính thức » để chỉ việc có tổ chức, do vua chúa phát động, có quân đội, vũ khí, thuyền bè, hậu cần, vv), xảy ra vào khoảng những năm sau đây : Cuộc thứ nhất (1096-1099); cuộc thứ nhì (1147- 1149) ; cuộc thứ ba (1189 -1192) ; cuộc thứ tư (1202 -1204) ; cuộc thứ năm (1217 -1219) ; cuộc thứ sáu (1228 -1229) ; cuộc thứ bảy (1248 -1254) ; cuộc thứ tám (1270). (Có nguồn nói tới cuộc thứ chín (1291), nhưng hình như vài sử gia coi cuộc Viễn chinh thứ 9 là sự nối tiếp không thành công của cuộc thứ 8) .
(2) Theo Thánh kinh (Bible) của đạo Do-thái và đạo Ki-tô, trong 66 cuốn sách, cuốn sách thứ hai « Xuất hành » (Exode) của Cựu ước (Ancien Testament), có chuyện Moïse (Moses) khi dẫn dân Do-thái thoát khỏi Ai-cập, được phù phép rẽ nước biển làm hai để vượt Hồng hải sang bờ phía đông. Cuốn phim « Mười điều răn » (The ten Commandments) của đạo diễn Cecil B.DeMille (1956) có tả sự tích này, tất nhiên có thêu dệt ít nhiều, và tới nay, vẫn còn nhiều giả thuyết về sự việc thật của việc vượt Hồng hải này mà khoa học chưa soi sáng.
(3) Theo cuốn “Lịch sử thủ đô Hà Nội” của nhóm Trần Huy Liệu, nxb Sử học, 1960, và theo một số nguồn khác, như bài “Từ Chùa Báo Thiên Đến Nhà Thờ Lớn” của Nguyễn An Tiêm http://sachhiem.net/TONGIAO/NguyenAnTiem.php , (có dẫn cuốn “Tang Thương Ngẫu Lục” của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án),
Năm 1883, theo yêu cầu của chính quyền bảo hộ Pháp, kinh lược Bắc kỳ là Nguyễn Hữu Độ nhường đất chùa Báo Thiên cho cố đạo Puginier xây trên đó nhà Thờ Lớn hiện nay ở Hà Nội, khởi công xây năm 1884 và khánh thành ngày 24/12/1886.
Chùa Báo Thiên có cây Tháp Báo Thiên (Bảo tháp Đại Thắng Tự Thiên) là một trong “An Nam tứ đại khí” – bốn công trình bằng đồng (?) thời Lý-Trần nay không còn nữa : tháp Báo Thiên ; tượng Phật chùa Quỳnh Lâm ở Đông Triều, Quảng Ninh, đúc thời Lý (năm nào?) ; chuông Quy Điền của chùa Diên Hựu (1101) đúc to quá, không đưa được vào treo trong một phương đình cao 8 trượng xây bằng đá xanh làm nơi treo chuông, nên bị bỏ ở ruộng có nhiều rùa nên có tên gọi đó; vạc Phổ Minh, thuộc chùa Phổ Minh ở Thiên Trường, Nam Định đúc vào thời vua Trần Nhân tông khoảng (1279-1293).
Tháp và chùa Báo Thiên xây năm 1059 đời vua Lý Thánh tông, được tả là gồm 12 tầng, cao mấy mươi trượng (!?), các tầng dưới xây bằng đá và gạch, tầng trên, bằng đồng. Thế kỉ 13 và 14, bão và sét đánh làm hư hỏng tháp. Năm 1426, tướng nhà Minh là Vương Thông, bị nghĩa quân của Lê Lợi vây trong thành, cùng quẫn quá, lấy đồng của tháp Báo Thiên để đúc vũ khí. Chùa Báo Thiên thì vẫn còn tồn tại cho đến năm 1883, theo các nguồn đã kể.
Bài http://baodaidoanket.net/ddk/mdNews.ddk?id=4200 mới đăng ngày 1/2/2008 dưới đầu đề “Lịch sử cụ thể về một khu đất có tên gọi là phố Nhà Chung ở Hà Nội” của Lê Quang Vịnh, nguyên Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ, có dẫn thêm một số chi tiết. Trong phần chú thích bài này có dẫn : “Báo Thiên Tháp Ảnh: Từ điển địa danh lịch sử văn hóa Việt Nam, NXB Văn hóa- Thông tin, Hà Nội, 1998, tr 92”
diendan@diendan.org
at
21:44
0
comments
Labels: SuyNgẫm
Trong một lần trả lời phỏng vấn về những bản tình ca, có người so sánh nội dung ca từ Trịnh Công Sơn với thơ ca Rabindranath Tagore, nhà thơ của “Tâm tình hiến dâng”, “Người làm vườn”, “Mùa hái quả”... Trịnh Công Sơn trả lời, chỉ xin được làm “người tình của cuộc sống”. Thật vậy, những ca từ của Trịnh Công Sơn là những khát khao của một người khát sống. Bởi vì khát sống, nên ông luôn ám ảnh về cái chết.
Nhưng có lẽ ca khúc “Một cõi đi về” với những ca từ mang nặng chất Thiền là ca khúc có cái nhìn lạ về số kiếp con người, ông xem cuộc đời như một cõi rong chơi, nếu nhìn từ phương diện triết học. Sinh thời, Trịnh Công Sơn cũng từng công nhận “Một cõi đi về” là một bài hát rất lạ, thực sự không dễ hiểu vì có những câu trong bài hát này bản thân ông cũng thấy khó giải thích. Nhưng tuy vậy, dù chưa hiểu hết lời nhưng chúng ta khi nghe, khi hát lên thì có điều gì đó chạm đến trái tim mình. 
Gửi bài này cho bạn bè




