23 thg 2, 2008

May it be - Enya

Enya - Only Time


Who can say where the road goes,
Where the day flows, only time?
And who can say if your love grows,
As your hearth chose, only time?
Who can say why your heart sights,
As your live flies, only time?
And who can say why your heart cries
when your love lies, only time?
Who can say when the roads meet,
That love might be ,in your heart?
and who can say when the day sleeps,
and the night keeps all your heart?
Night keeps all your heart.....
Who can say if your love groves,
As your heart chose, only time?
And who can say where the road goes
Where the day flows, only time?
Who knows? Only time
Who knows? Only time

Ngay xua Hoang Thi

20 thg 2, 2008

Hubble Space Telescope - Chapter 1

Stephen Hawking

Huỳnh Ngọc Chiến
Nhân “Ngày trở về” của Phạm Duy

Với nhan đề này tôi hoàn toàn không có ý nói đến ngày nhạc sĩ Phạm Duy quay trở về định cư trên đất nước Việt Nam. Tôi cũng không muốn nói đến đĩa CD Ngày trở về trình bày của những ca khúc của người nghệ sĩ tài ba này, mà trong đó vẫn còn vài ca khúc mà ca từ lẫn giai điệu vẫn chưa hoàn toàn được diễn đạt một cách trọn vẹn và tương xứng. Đương nhiên tôi cũng không muốn nói tập hồi ký của ông đi kèm với đĩa CD, mà theo tôi là khá nhạt đối với những ai đã từng yêu nhạc Phạm Duy, và do đó, đã tìm hiểu ông từ trước năm 1975. Tập hồi ký quá ngắn đó và đĩa CD chưa nói được gì về âm nhạc của một người nhạc sĩ đầy tài năng đã từng làm say đắm nhiều thế hệ ở miền Nam. “Ngày trở về” tôi muốn nói ở đây chỉ đơn giản là “ngày trở về của âm nhạc” trong lòng những ai thật sự thích âm nhạc thuộc thể loại ca khúc, trong nền âm nhạc Việt Nam. Đĩa CD nhạc Phạm Duy dù chưa thật đạt (dĩ nhiên là chỉ theo cảm nhận chủ quan, và ắt hẳn, phiến diện của tôi), nhưng vẫn như một trận mưa rào tưới xuống mảnh đất âm nhạc khô cằn, quá đỗi khô cằn hiện nay. Chưa bao giờ một nền văn hóa luôn tự hào về quá khứ bốn ngàn năm văn hiến của chúng ta lại phải chứng kiến một sự sa sút đến thế về văn hóa, cụ thể là âm nhạc, như thời hiện đại. (Tôi chỉ muốn nói đến loại âm nhạc được sáng tác chủ yếu từ sau “Thời mở cửa” và được phổ biến tràn lan trên các phương tiện thông tin đại chúng). Bao nhiêu năm qua, trên các phương tiện thông tin đại chúng, vẫn cứ nhan nhản những ca khúc thời thượng mà dường như tác giả của nó chưa hiểu gì cả về âm nhạc lẫn tiếng Việt! Các ca khúc với ca từ ngô nghê và giai điệu đầy dung tục nhưng được ưa chuộng này, cùng với sự trợ lực vô tình của nhiều phương tiện thông tin đại chúng, đã góp phần đẩy nền âm nhạc Việt Nam lún vào hố sâu ngày càng tệ hại. Dĩ nhiên vẫn có một số ca khúc nghiêm túc, sâu lắng được sáng tác trong khoảng hai thập niên gần đây, mà đến bây giờ vẫn còn làm cảm động người nghe. Nhưng tiếc thay những ca khúc đó lại quá hiếm hoi và không được công chúng đón nhận đúng mức. Càng đáng tiếc hơn nữa khi những ngọn lửa sáng tạo kia lại quá yếu ớt, cứ chập chờn như muốn tắt đi, hoặc đã tắt hẳn, giữa bóng đêm mù mịt phủ vây của loại ca khúc đầy dung tục. Trước đây, trong điều kiện bắt buộc của lịch sử, chúng ta luôn lo “đánh” những loại âm nhạc mà ta xếp vào loại “nọc độc văn hóa” vì sợ nó tác dụng xấu đến đời sống xã hội. Nhưng giờ đây, theo tôi, chính những loại nhạc thời thượng đầy sự dung tục dễ dãi, một khi lan truyền rộng rãi trong đời sống văn hóa mới thực sự là loại hình văn hóa nguy hiểm trong việc tàn phá sức cảm thụ âm nhạc chân chính của thế hệ trẻ. Nó đang gây hoang phế cho nền văn hóa và sẽ làm tê liệt mọi suối nguồn sáng tạo. Tôi có cảm tưởng nó như là một loại “sa mạc văn hóa” đang ngày càng lan rộng dần. Trận lũ quét qua dù tàn phá lớn, nhưng vẫn có ích để con người cày bừa canh tác trên đám phù sa để lại. Còn sa mạc chỉ có thể đem lại sự cằn cỗi đầy chết chóc. Nó làm xơ cứng đời sống văn hóa hiện tại đã đành, lại còn có nguy cơ hủy diệt luôn mọi mầm mống sáng tạo trong mai sau. Đó là điều cực kỳ nguy hiểm xét từ góc độ văn hóa. Đừng để khu vườn âm nhạc Việt Nam trong tương lai chỉ có toàn những loại xương rồng dị dạng! Sức cảm hóa của âm nhạc, tự ngàn xưa, đã được người xưa lưu tâm và dùng làm công cụ giáo dục. Người xưa cho rằng thông qua âm nhạc có thể đoán được phần nào sự thịnh suy của một nền văn hóa. Sự đơn bạc, hời hợt của thể loại ca khúc hiện nay khiến cho bất kỳ ai quan tâm đến văn hóa đều không khỏi cảm thấy đau lòng. Thể loại khí nhạc là điều quá xa vời với một nền văn hóa chưa có bề dày lịch sử về âm nhạc như Việt Nam, nên chúng ta chỉ còn trông chờ vào các ca khúc. Và ta thấy được gì từ phần lớn các ca khúc phổ biến hiện nay? Giai điệu thì hời hợt, ca từ thì thô ráp, ngớ ngẩn như những bài văn xuôi của trẻ con mới tập đặt câu hoặc như lời dịch vụng về từ một ca khúc nước ngoài. Tây không ra Tây, mà Tàu cũng chẳng ra Tàu. Ca khúc là để hát. Mà hát, suy cho cùng, cũng chỉ là cách diễn đạt những gì ta muốn nói bằng ngôn ngữ, qua phương tiện nghệ thuật. Cho nên lối trình diễn chân chính trong nhạc Việt luôn nhẹ nhàng, khác hẳn với kiểu trình diễn “lên gân”. Chỉ những ca sĩ cảm thụ được điều này mới lột được phần hồn của bản nhạc. Ca từ luôn giúp người nghe cảm thụ nhiều hơn về phần sâu lắng trong ca khúc, phần sâu lắng mà thông thường ta chỉ cảm thụ được một cách mơ hồ qua giai điệu. Chính vì trong ca khúc, giai điệu không đủ sức diễn tả nội dung như các thể loại nhạc không lời, nên phải nhờ tới ca từ. Ngôn ngữ của mỗi đất nước, mỗi dân tộc đều có một linh hồn riêng, cho nên giai điệu và ca từ trong mọi ca khúc phải thể hiện được phần hồn đó thì mới có thể đi vào lòng người, mới có được sắc thái riêng. Ca khúc chân chính phải hòa quyện vào và nâng cao được nhạc tính hàm ẩn trong ngôn ngữ, nhất là một ngôn ngữ giàu nhạc điệu như tiếng Việt. Đó là phần đang thiếu trầm trọng trong ca khúc hiện nay. Có nhiều ca khúc có ca từ quá bóng bẩy và giàu nhạc điệu dễ làm ta lóa mắt trong buổi gặp ban đầu, nhưng sau vài lần nghe, nó dễ cho ta cảm tưởng sáo rỗng, sự sáo rỗng bị cái tài hoa của người nghệ sĩ che lấp đi. Cũng như khi còn đi học, ngôn ngữ của Cung oán ngâm khúc dễ làm ta bị mê hoặc hơn cả Truyện Kiều. Nhưng khi đọc nhiều lần, ta thử bóc lớp vỏ phù hoa của ngôn ngữ để tìm vào bên trong thì lại dễ dàng thất vọng: nó thiếu chất sống của ngôn ngữ đời thường. Tôi luôn thích những ca từ đơn sơ mà tinh tế, mượt mà mà không sa vào sáo rỗng, phù phiếm. Và chính trong rất nhiều các ca khúc Phạm Duy (không phải tất cả), tôi đã tìm được điều ấy. Điểm qua khối lượng đồ sộ các ca khúc Phạm Duy là điều vượt quá khuôn khổ của một bài báo. Tôi cũng không bàn đến một Phạm Duy có tài thả nhạc vào thơ để nhiều bài thơ bình thường bỗng biến thành châu ngọc; hoặc thổi hồn tiếng Việt vào các giai điệu của những nhạc sĩ vĩ đại như F. Schubert, R. Schumann, J. Strauss… để tiếng Việt được chắp cánh bay cao hơn nữa trên nền các giai điệu bất tử đó. “Chiều buông nhẹ xuống đời, người tình tìm đến người, thấy run run trong chiều phai… Chiều nay lỡ ghé môi trên mi sầu…” [1] . Trong bài viết này, tôi chỉ muốn nhắc qua một vài ca từ trong dăm ca khúc đã gây cho tôi những ấn tượng sâu đậm ngay từ ngày còn đi học. Như là kỷ niệm êm đềm thời quá khứ. Từ ngày còn là cậu bé lớp đệ thất (tức lớp 6 bây giờ), tôi đã phải bao lần gục đầu thẫn thờ cùng ca khúc “Chiều về trên sông”, giữa những buổi chiều rất mênh mang ở một chốn quê xa. Nơi đó cũng có dòng sông, dù không lớn lắm nhưng vẫn rất mênh mông trong tâm hồn cậu học trò mới lớn. “Chiều buông trên dòng sông Cửu Long, như một cơn ước mong ơi chiều. Về đâu ơi hàng cây gỗ rong, nghiêng mình trong bóng sông yêu kiều? Buồn tôi không vì sao bỗng dưng, theo đò ngang quá giang thương chiều… Hãy cất tiếng ca cho đời thêm (ý) buồn, hãy cất tiếng ca cho lòng thôi khô héo…” Và bóng chiều rơi trên sông Cửu Long đó có lẽ vẫn mãi mãi là bóng chiều rơi trong hồn những bạn thuộc thế hệ tôi, trên mọi dòng sông quê nhà. Ca từ trôi theo giọng mineur nghe như bàng bạc không khí ngậm ngùi trong hồn thơ Huy Cận: ”Nắng xuống sầu lên sâu cao chót vót, sông dài trời rộng bến cô liêu … Chim nghiêng cánh nhỏ, bóng chiều sa. Hồn quê dờn dợn vời con nước. Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” (“Tràng giang” - Huy Cận). Ca khúc đó, lời thơ đó đã giúp tôi tìm được “hồn quê” theo cách của riêng mình. “Hồn quê” đó vẫn luôn có một cái gì đó làm ta lưu luyến đến lạ lùng, trên những bờ lúa nương khoai, trên những chiếc áo sờn vai, trên những tia nắng chiều hôm. “Ruộng khô có những ông già rách vai, cuốc đất bên đàn trẻ gầy, có người bừa thay trâu cày… Chiều rơi thoi thóp trên vài luồng khoai, hiu hắt tiếng bà mẹ cười, vui vì nồi cơm ngô đầy.” Và hình ảnh quê hương càng ngọt ngào và tha thiết hơn trong tôi, qua hình ảnh ánh đèn dầu treo bóng mẹ gầy lên vách: “Con thấy mẹ yêu đã già, hẳn là miền quê những năm vừa qua, chiếc bóng in trên vách nhà, một ngày một sương tóc chưa phai mờ”. Rồi giờ Việt văn, cô giáo lại làm chúng tôi lặng người khi nghe cô hát bản “Tình ca”: “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, mẹ hiền ru những câu xa vời. À à ơi! Tiếng ru muôn đời… Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui khóc cười theo vận nước nổi trôi, nước ơi… Tiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi, thoắt nghìn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi”. Tiếng Việt đã theo giai điệu ngọt ngào trôi bềnh bồng vào tâm hồn chúng tôi, để mỗi khi đến giờ Việt văn nghe cô giảng, chúng tôi lại nhớ đến “mẹ hiền ru những câu xa vời. À à ơi! Tiếng ru muôn đời… Một yêu câu hát truyện Kiều, lửng lơ như tiếng sáo diều (ư diều) làng ta ”. Tuổi trẻ chúng tôi đã tìm đến với Phạm Duy lúc ban đầu một cách giản dị như thế đó. Như những cậu bé nhà quê rong chơi trên đường thôn để tìm những đóa hoa dủ dẻ. Mộc mạc nhưng thơm lựng. Rồi về sau chúng tôi lại cùng theo ông đi qua những bản tình ca nồng nàn đau đớn, Hoan ca trong sáng vui tươi, Mẹ Việt Nam, Con đường cái quan chất ngất tình quê và hồn sông núi… Còn nhiều thể loại nữa mà tôi không thể trình bày ra đây trong khuôn khổ một bài báo. Nhưng điểm xuyên suốt qua mọi ca khúc đó vẫn là sự mộc mạc và tinh thuần trong phần hồn tiếng Việt đã được ông kết hợp một cách hài hòa, sâu lắng. Đó là sự thiếu vắng đáng đau xót trong ca từ của phần lớn ca khúc hôm nay. Các ca khúc Phạm Duy được phép trình bày trở lại, dù với số lượng chưa nhiều và chưa phải toàn là những bài hay nhất, nên chắc chắn không đủ sức tưới thấm cho một vùng đất quá đỗi khô cằn, nhưng với tôi đó là dấu hiệu đáng mừng cho thể loại ca khúc chân chính đang hồi sinh, một thể loại âm nhạc đã từng tồn tại và phát triển tuyệt vời tại Việt Nam từ thời tiền chiến, trong buổi ban đầu tiếp xúc với âm nhạc phương Tây. Tôi chỉ mong rằng, cùng với sự xuất hiện của ca khúc Phạm Duy, sẽ là “ngày trở về” của phần hồn tiếng Việt trong các ca khúc mới của Việt Nam, trong những ngày gần đây nhất. © 2008 talawas
[1]Tất cả những lời trích dẫn trong bài này, nếu không chua xuất xứ, đều được lấy từ các ca khúc của Phạm Duy.
bản để in Gửi bài này cho bạn

16 thg 2, 2008

15 thg 2, 2008

Ban Mai
Trịnh Công Sơn, người tình của cuộc sống
1 2
Trịnh Công Sơn Trong một lần trả lời phỏng vấn về những bản tình ca, có người so sánh nội dung ca từ Trịnh Công Sơn với thơ ca Rabindranath Tagore, nhà thơ của “Tâm tình hiến dâng”, “Người làm vườn”, “Mùa hái quả”... Trịnh Công Sơn trả lời, chỉ xin được làm “người tình của cuộc sống”. Thật vậy, những ca từ của Trịnh Công Sơn là những khát khao của một người khát sống. Bởi vì khát sống, nên ông luôn ám ảnh về cái chết.

Trịnh Công Sơn từng nói: “Nỗi ám ảnh lớn nhất, đeo đẳng tôi từ thuở còn nhỏ cho đến sau này vẫn luôn luôn bị ám ảnh là cái chết. Sự sống và cái chết trở thành một vấn đề lớn trong đời sống tinh thần của tôi. Có lẽ suy cho cùng từ đâu mà ra cái suy nghĩ đó là do tôi quá yêu cuộc sống, sợ mất nó. Mất mát một cái gì đó mà mình từng có trong cuộc đời, đã từng đi qua và đã từng tìm thấy như tình yêu, như cái gì đẹp nhất của cuộc sống sợ ngày nào sẽ mất đi. Sự mất mát và cái chết là nỗi ám ảnh lớn nhất đời tôi.” [1]

Trong ca từ Trịnh Công Sơn chúng ta dễ dàng bắt gặp những “ám ảnh” ấy:

Bao nhiêu năm làm kiếp con người
Chợt một chiều tóc trắng như vôi
Lá úa trên cao rụng đầy
Cho trăm năm vào chết một ngày
(“Cát bụi”)

Đường nào dìu tôi đi đến cơn say
Một lần nằm mơ tôi thấy tôi qua đời
(“Bên đời hiu quạnh”)

Sống có bao năm vui vui buồn buồn người người ngợm ngợm
Sống chết mong manh như thân cỏ hèn mọc đầy núi non
(“Giọt lệ thiên thu”)

Sự nhạy cảm thường trực về tính hữu hạn của cuộc đời đã thúc đẩy tâm hồn ông luôn tiếp cận với cõi vô thường.

Chìm dưới cơn mưa một ngưởi chết đêm qua
Chìm dưới đất kia một người sống thiên thu...
Hạt cát ngu ngơ nằm chìm dưới chân đi
Bờ bến thiên thu nằm chìm dưới hư vô
(“Chìm duới cơn mưa”)

Sống từng ngày
Chết từng ngày
Còn sống một ngày là hẹn chết mai đây
(“Buồn từng phút giây”)

Người nằm co như loài thú trong rừng sương mù
Người nằm yên không kêu than chết trên căn phần...
Còn bao lâu cho thân thôi lưu đày chốn đây
Còn bao lâu cho thiên thu xuống trên thân này
(“Phúc âm buồn”)


Trịnh Công Sơn Nhưng có lẽ ca khúc “Một cõi đi về” với những ca từ mang nặng chất Thiền là ca khúc có cái nhìn lạ về số kiếp con người, ông xem cuộc đời như một cõi rong chơi, nếu nhìn từ phương diện triết học. Sinh thời, Trịnh Công Sơn cũng từng công nhận “Một cõi đi về” là một bài hát rất lạ, thực sự không dễ hiểu vì có những câu trong bài hát này bản thân ông cũng thấy khó giải thích. Nhưng tuy vậy, dù chưa hiểu hết lời nhưng chúng ta khi nghe, khi hát lên thì có điều gì đó chạm đến trái tim mình. [2]

Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi
Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt
Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt
Rọi suốt trăm năm một cõi đi về

Mỗi con người đều có một cõi đi về riêng của mình, đó là ý chính của bài hát. Từ hư vô người ta đến với cuộc sống và từ cuộc đời rong chơi người ta lại trở về với hư vô. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng nói rằng khi nghe bài hát này ông không cảm thấy sợ chết nữa. [3] Ấy là một cảm nhận chung của chúng ta, vì ai cũng có cõi đi cõi về giống nhau nên việc đến và đi tới cuộc đời rồi trở lại hư vô không còn quá đè nặng con người, không xa lạ với họ. Hiểu được như thế, con người chợt thanh thản hơn trước cái chết.

Qua ca từ "Một cõi đi về" của Trịnh Công Sơn, chúng ta bắt gặp tính chất vô thường của thơ Thiền đời Lý - Trần trong bài "Chợt tỉnh" của Tuệ Trung:

Đoán biết rằng “không” và “có” không cách nhau lắm
Sống và chết vốn từ một đợt sóng
Trăng sáng đêm qua vẫn là trăng đêm nay
Hoa nở năm mới cũng là hoa năm cũ
Ba sinh thấm thoắt thực như ngọn đuốc trong gió
Chín cõi tuần hoàn giống như con kiến bò trên miệng cối xay bột
Có người hỏi thế nào là cứu cánh
Ma-ha-bát-nhã tát-bà-ha

Trong các bài thơ Thiền đời Lý - Trần, các nhà thơ cũng phản ánh thân phận con người ngắn ngủi và chóng vánh. Đời người chỉ “như một ánh chớp, mới có đã thành không” ("Thị đệ tứ" - Vạn Hạnh). Tính chất vô thường này được biểu hiện sinh động qua hình ảnh “ba sinh thấm thoắt như ngọn đuốc trước gió” ("Đốn tỉnh" - Tuệ Trung). Tất cả, cuộc sống, công danh phú quý, hạnh phúc tuổi xuân, đều chỉ là một giấc mộng ngắn ngủi, một áng mây nổi tụ tán không định trước, một mũi tên bay mất hút không trở lại. Các nhà thơ Thiền luôn kêu gọi mọi người nhận thức rõ điều này”mặt trời lên rồi sẽ lặn, đời người nổi rồi sẽ chìm” ("Thư thời vô thường kệ" – "Khóa hư lục", Trần Thái Tông); “tháng ngày không ở lâu; cái già, cái bệnh rất dễ xâm nhập” ("Hoàng hôn khuyến chứng kệ" – "Khóa hư lục", Trần Thái Tông), kêu gọi con người nhìn thẳng vào thực tế. Tính chất ngắn ngủi vô thường của thời gian trần thế cần được ý thức không phải để bi quan yếm thế mà để vượt lên khỏi nỗi sầu cố hữu này, đạt đến tâm thái “Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận / đình tiền tạc dạ nhất chi mai” ("Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết / Đêm qua sân trước nở một nhành mai") ("Cáo Tật Thị Chúng", Mãn Giác thiền sư). [4]

Ngay trong cái giây phút “ngộ đạo” thì thời gian hữu hạn đã trở thành thời gian vô thủy vô chung, mùa xuân có đi có đến đã trở thành mùa xuân hằng thường, vĩnh cửu, hay nói khác, thời gian đo đếm được đã trở thành một thứ siêu thời gian. Trong các ca khúc của Trịnh Công Sơn, luôn có sự vận động biện chứng giữa cái vô thường và cái hằng thường, giữa khoảnh khắc và trường cửu. Thấm nhuần tính chất Thiền - Phật, Trịnh Công Sơn cũng đã “ngộ” ra cõi đời này chỉ là cõi tạm và ông kêu gọi mọi người hãy sống vui vẻ nơi quán Trọ này:

Con chim ở đậu cành tre
Con cá ở trọ trong khe nước nguồn
Cành tre… (í… a)
Dòng sông… ( í… a)
Tôi nay ở trọ trần gian
Trăm năm về chốn xa xăm cuối trời
(Í…a …í… à… í… à… a…)
("Ở trọ")

Bi kịch phận người không chỉ mâu thuẫn giữa cái hữu hạn và vô hạn mà còn là bi kịch của sự phi lý. Trong "Trường ca Tiếng hát Dã tràng", Trịnh Công Sơn đã nói rõ điều ấy. Theo tài liệu Nguyễn Đắc Xuân, Trịnh Công Sơn viết trường ca này lấy ý tưởng từ tác phẩm Le Mythe de Sisyphe (Huyền thoại Sisyphe) của Albert Camus – tác gia hiện sinh người Pháp đoạt giải Nobel 1957. Tác phẩm Huyền thoại Sisyphe nói về sự phi lý của cuộc đời. Tất cả những gì con người nỗ lực xây dựng nên rồi cũng chẳng đi đến đâu, giống như anh chàng Sisyphe bị khổ sai hằng ngày phải đẩy một tảng đá lên núi cao và thả tay cho tảng đá lăn xuống vực rồi sau đó lại cố sức đẩy lên rồi lại thả tay. Tất cả sự nỗ lực ấy không có nghĩa gì hết, giống như truyền thuyết Dã tràng xe cát biển Đông của người phương Đông vậy. "Trường ca Tiếng hát Dã Tràng" nhuốm màu triết lý về thân phận làm người. Kiếp người là vô nghĩa, con người là khổ đau, chỉ có tình yêu mới làm vơi bớt khổ đau. Trường ca là tiếng kêu thống thiết của “dã tràng khóc cho thân mình” trước cảnh “trùng dương đưa sóng vào bờ, đùa lên biển cát hoang vu, xoá từng mảnh công dã tràng…" nói lên niềm đau vô vàn của thân phận. Những gì con người làm ra rồi cũng là công dã tràng. Tuy nhiên, không phải vì vậy mà ông tuyệt vọng, buông xuôi. [5] Trịnh Công Sơn chỉ ra rằng chỉ có tình yêu mới làm vơi bớt khổ đau và đó là chốn trú ẩn cuối cùng:

Tên tháng ngày viết trên môi cười
Đốt đêm dài nghe ngóng tình yêu,
Nghe dã tràng xuống hai vai gầy,
Đốt cơn buồn đi đến tình yêu,
Gọi vào tình yêu, gọi vào tình yêu
Ta ra ngàn lối bắc loa gọi vào tình yêu

Nhạc sĩ Văn Bình cho rằng: “Trường ca này là kho lưu trữ những ưu tư mà ta thường bắt gặp lại trong nhiều ca khúc của Trịnh Công Sơn sau này như ‘Lời buồn thánh’, ‘Đoá hoa vô thường’”. [6]

Một lát cắt quan trọng nữa để tìm hiểu về phận người mong manh, chóng tàn là tìm hiểu nỗi ám ảnh thời gian tàn phai trong thế giới Trịnh Công Sơn.

Trong tác phẩm “Trịnh Công Sơn / Ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật”, Bùi Vĩnh Phúc đã phân tích khá kỹ nỗi ám ảnh thời gian tàn phai này. Nhận xét rằng người ta dễ dàng bắt gặp những hình ảnh tàn phai trong thế giới của Trịnh Công Sơn, như nắng vàng phai, lá vàng phai, ôm lòng phai tàn, thu phai, mộng nhạt phai, v.v…, ông viết: “Đối với ông, thời gian thường đi quá nhanh, để tất cả những gì là tươi đẹp trong cuộc sống này cứ thế mà phai úa, tàn héo dần. (…) Trong bài "Nhìn những mùa thu đi", Trịnh Công Sơn viết: Nhìn những mùa thu đi, em nghe sầu lên trong nắng / Và lá rụng ngoài song, nghe tên mình vào quên lãng / Nghe tháng ngày chết trong thu vàng (…) Đã mấy lần thu sang / Công viên chiều qua rất ngắn / Chuyện chúng mình ngày xưa, anh ghi bằng nhiều thu vắng, đến thu này thì mộng nhạt phai. Quên lãng, chết, rất ngắn, nhạt phai. Đó là những nhận thức của Trịnh Công Sơn về bước đi hững hờ mà gây nhiều xót xa, đau đớn của thời gian, đối với kiếp người.” [7]

Không phải chỉ trong ca từ Trịnh Công Sơn mới tiếc xuân thì, mới ám ảnh nỗi tàn phai. Thơ xưa đã đầy những lời cảnh báo về nỗi ngắn ngủi của tuổi trẻ: Chơi xuân kẻo hết xuân thì / Cái già sồng sộc nó thì theo sau. Và đặc biệt đến Thơ Mới, tiếng thơ của quyền sống cá nhân – nó trở thành một tiếng nói đầy ý thức về cái ngắn ngủi đến tàn nhẫn của cuộc đời.

Xuân đang đến nghĩa là xuân đang qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất
(Xuân Diệu)

Chế Lan Viên chối từ dứt khoát khi mùa Xuân đến, ông muốn ở lì với mùa Thu, có nghĩa là ông muốn ở lì với quá khứ, níu giữ thời gian đã mất. Ông ước muốn:

Ai đâu trở lại mùa thu trước
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng?
Với của hoa tươi, muôn cánh rã
Về đây, đem chắn nẻo xuân sang!
("Xuân" - Chế Lan Viên)

Tương tự như vậy, Xuân Diệu lại mong ước táo bạo hơn: Tôi muốn tắt nắng đi / Cho màu đừng nhạt mất / Tôi muốn buộc gió lại? Cho hương đừng bay đi… ("Vội vàng"). Khó mà bảo rằng ước muốn ấy không “ngông cuồng”, “ngộ nghĩnh”, không chứng tỏ “một sức mạnh phi thường” bởi con người ta ai mà tắt được mặt trời, mà buộc nổi gió, ai mà quay ngược lại bánh xe tạo hoá của thời gian. [8]

Và Trịnh Công Sơn cũng có một mơ ước rất đẹp, rất “dị thường” như Xuân Diệu và Chế Lan Viên. Nhưng mơ ước của ông lại chỉ là “chăn gió mưa sang”.

Ngày mai em đi, biển nhớ em quay về nguồn
Gọi trùng dương gió ngập hồn, bàn tay chăn gió mưa sang…
("Biển nhớ")

Tuy nhiên, ở đây ta thấy các nhà Thơ Mới luôn níu kéo thời gian, luôn muốn quay về quá khứ nên “chắn nẻo xuân sang”. Còn Trịnh Công Sơn cũng buồn, cũng tiếc nuối thời gian. Nhưng ông hiểu đó là quy luật muôn đời của tạo hoá nên chấp nhận chứ không níu kéo, mà cùng hoà vào thiên nhiên để “chăn gió mưa sang”.

Những ca khúc viết về thân phận con người của Trịnh Công Sơn trước sự sống cái chết và nỗi tàn phai cũng chỉ là đi tìm cái hữu hạn của kiếp sống. Sự hiện diện của mỗi số phận bắt buộc phải đi qua một khoảng thời gian nào đó, do định mệnh an bài và cái không gian vô định phải nhận diện. Theo nhà Phật đó là nhân quả, là luân hồi, là sự sinh trưởng không ngơi nghỉ và biến hoá vô cùng để phát triển, tạo nên cái “nghiệp” cho số phận. Nên cái thân phận khốn khó mà mỗi kiếp người phải mang nặng, không nằm trong phạm trù riêng, nó trải rộng ra cả thế gian này với những sai biệt xuyên qua cung số. Cát bụi lại trở về cát bụi.

Hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi
Để một mai vươn hình hài lớn dậy
...Ôi cát bụi phận này
Vết mực nào xoá bỏ không hay
("Cát bụi")


*

Thân phận con người mong manh trước sự sống và cái chết, trước nỗi buồn và sự cô đơn, không phải là tâm trạng của riêng ai. Có lẽ là định mệnh tiền kiếp của con người. Văn chương lãng mạn từ xưa đến nay đều buồn, đặc biệt trong thơ trữ tình, nỗi buồn của thi nhân càng được bộc lộ một cách thấm thía hơn.

Riêng với Trịnh Công Sơn - người nhạc sĩ thấm nhuần nền văn hoá lãng mạn Pháp từ thuở nhỏ thì cái tôi, cái bản ngã của ông càng được bộc lộ, khẳng định rõ nét. Nó như một ám ảnh của đời mình. Trịnh Công Sơn là một khối cô đơn. “Làm sao thấu từng nỗi đời riêng…” ("Như một lời chia tay"). “Người về soi bóng mình, giữa tường trắng lặng câm…” ("Ru ta ngậm ngùi"). Hãy nghe ông nói về thế giới của ông. “Tự mình biết riêng mình và ta biết riêng ta” ("Ngẫu nhiên"). Một trong những thú tiêu khiển của ông là mỗi ngày “ngồi trong phòng uống rượu và nhìn nắng từ sáng đến chiều tối”. Ông tận hưởng cái thú “ngồi yên lặng nhìn trời đất và suy tưởng về những điều mình chưa tự giải đáp được cho chính bản thân mình…” Ông cũng cho biết “khoảng thời gian thích nhất là được ngồi yên tĩnh một mình trước khi có một người bạn đầu tiên xuất hiện để phá tan sự yên tĩnh đó”. Vì thế, những nỗi niềm thầm kín của ông trước sau vẫn là “một điều giấu kín trong tim con người là điều giấu kín thôi” ("Một lần thoáng có"). [9]

Bùi Vĩnh Phúc nhận định rằng “tâm hồn là kẻ săn đuổi cô đơn”, nói theo Carson McCullers. Ông viết: “Chính trong sự cô đơn, con người nghe ngóng được cuộc đời, cảm nhận được những hiện tượng thiên nhiên một cách rõ ràng hơn. Trịnh Công Sơn cũng vậy. Trong tịch lặng của niềm cô đơn, thính giác của ông trở nên mẫn cảm hơn bao giờ. Sự nghe ngóng cuộc đời, cảm nhận thiên nhiên của ông, ở một góc cạnh nào đó, cũng là một nỗi ám ảnh muốn ôm lấy đời sống này: Đêm nghe gió tự tình / Đêm nghe đất trở mình vì mưa / Đêm nghe gió thở dài / Đêm nghe tiếng khóc cười của bào thai… (Nghe tiếng muôn trùng). Nghe ngóng thiên nhiên, ông có dịp sống trở lại những cảm giác, những hạnh phúc và đau đớn cũ. Đời sống ông trở nên đậm nét và sâu lắng:

Đôi khi thấy trên lá khô một dòng suối
Đôi khi nhớ trong mắt em một bóng tối nhỏ nhoi…
Đôi khi bước qua phố xưa lòng tôi nhớ
Đôi khi thấy trăm vết thương rồi như đá ngây ngô
("Rồi như đá ngây ngô")” [10]

Cảm giác cô đơn có lẽ là định mệnh của con người, cho dù ở bất cứ nơi đâu. Trên chính quê hương mình hay ở xa quê hương. Vào thời bình hay thời chiến. Giữa đám đông hay trong khoảng vắng… Chỉ còn có thể về với mình, về với tôi:

Trời cao đất rộng
Một mình tôi đi
Một mình tôi đi
Đời như vô tận
Một mình tôi về
Một mình tôi về… với tôi!
("Lặng lẽ nơi này")

Tương tự như vậy, đối với các nhà Thơ Mới, cô đơn là nỗi buồn truyền kiếp. Họ ý thức quá đầy đủ về chính mình nên càng cảm nhận rõ rệt cảm giác cô đơn.

Có những nỗi buồn vô cớ xâm chiếm tâm hồn một cách nhẹ nhàng, êm ái:

Hôm nay trời nhẹ lên cao
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn
… Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều
Lòng không sao cả, hiu hiu, khẽ buồn…
("Chiều" - Xuân Diệu)

Nhưng thấm thía hơn là nỗi buồn mang theo cảm giác cô đơn:

Bốn bề ánh nhạc: biển pha lê
Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề
("Nguyệt cầm" – Xuân Diệu)

Huy Cận cũng từng ví tâm hồn cô đơn, sầu não giữa cõi đời của mình như hòn đảo:

Hồn đơn chiếc như đảo rời dặm biển
Suốt một đời như núi đứng riêng tây
("Mai sau")

Trần Tử Ngang của Trung Hoa hơn ngàn năm trước, cũng đã từng có một nỗi buồn tương tự như thế:

Tiền bất kiến cổ nhân
Hậu bất kiến lai giả
Niệm thiên địa chi du du
Độc thương nhiên nhi lệ hạ.

Tạm dịch:

Ai người trước đã qua?
Ai người sau chưa đẻ?
Nghĩ trời đất vô cùng
Một mình tuôn giọt lệ. [11]

Tuy nhiên, cái buồn và cô đơn của các nhà Thơ Mới khác với cái buồn của Trịnh Công Sơn. Các nhà Thơ Mới chỉ biết tỏ thái độ bất hoà với đời sống xã hội bằng cách lẩn trốn vào cái tôi cô đơn, buồn bã: “Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ. Ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư. Ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên. Ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi cũng tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ, ta ngẩn ngơ buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận”. [12]

Theo tôi, với Trịnh Công Sơn, ông chấp nhận cô đơn. Trong cô đơn ông nghe ngóng cuộc đời, cảm nhận những vi diệu tinh tế của thiên nhiên. Quan điểm tích cực về cái tôi cô đơn của Trịnh Công Sơn đã quyết định chỗ đứng và điểm nhìn của ông trước cuộc đời. Trịnh Công Sơn cô đơn nhưng không trốn vào nỗi đau của riêng mình mà trải lòng ra với đời, đón nhận, và chấp nhận:

Dù đến rồi đi tôi cũng xin tạ ơn người
tạ ơn đời, tạ ơn ai đã cho tôi
còn những ngày quên kiếp sống lẻ loi
Dù đến rồi đi tôi cũng xin tạ ơn người
tạ ơn đời, tạ ơn ai đã cho tôi
tình sáng ngời như sao xuống từ trời
("Tạ ơn" - Trịnh Công Sơn).

(Còn 1 kì)

© 2008 talawas


[1]Văn xuôi Trịnh Công Sơn (2004), "Kiếp sau tôi vẫn là người nghệ sĩ" (trả lời phỏng vấn VCH), in trong Một cõi Trịnh Công Sơn, NXB Thuận Hóa, TTVHNNĐT (tr. 523)
[2]Văn xuôi Trịnh Công Sơn (2004), sđd. (tr. 520)
[3]Văn xuôi Trịnh Công Sơn (2004), sđd. (tr. 520)
[4]Đoàn Thị Thu Vân (1996), Khảo sát đặc trưng nghệ thuật của thơ Thiền Việt Nam thế kỷ X - thế kỷ XIV, NXB Văn học.
[5]Nguyễn Đắc Xuân (2003), Có một thời như thế, NXB Văn học
[6]Hoàng Phủ Ngọc Tường (2005), Trịnh Công Sơn và cây đàn lya của hoàng tử bé, NXB Trẻ (tr. 74)
[7]Bùi Vĩnh Phúc (2005), Trịnh Công Sơn / Ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật, NXB Văn Mới
[8]Lê Bá Hán (chủ biên), Lê Quang Hưng, Chu Văn Sơn (2003), Tinh hoa Thơ Mới thẩm bình và suy ngẫm, NXB GD.
[9]Lê Hữu, "Ảo giác Trịnh Công Sơn", nguồn www.tcs-home.org
[10]Bùi Vĩnh Phúc (2005), sđd
[11]Hoài Thanh – Hoài Chân (1993), Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học Hà Nội (tr. 135)
[12]Hoài Thanh – Hoài Chân (1993), sđd. (tr. 34)


.2008
Ban Mai
Trịnh Công Sơn, người tình của cuộc sống
1 2
Tạ ơn đời, tạ ơn tình yêu là một trong những đặc điểm nổi bật trong ca từ Trịnh Công Sơn. Tình yêu ở Trịnh Công Sơn là tình yêu không hạnh phúc. Hầu hết trong những tình ca của ông là những bức tranh mang tên: tình phụ, tình sầu, tình xa, tình xót xa vừa, tình nhớ, tình vơi… Hạnh phúc có chăng, chỉ đong bằng những mảnh vụn và những mảnh vụn… cũng sẽ chìm trôi. [1]

Trong đời người, ai chẳng từng yêu và được yêu… và tránh sao khỏi những cuộc tình tan vỡ. Thế giới tình yêu của Trịnh Công Sơn là một đóng góp thành công trong việc phát hiện và biểu hiện những ngôn ngữ tình yêu sâu kín, thể hiện mọi cung bậc tình cảm, nhớ thương, tương tư, mong chờ, giận hờn, trách móc, xót xa, biệt ly, thất tình, tình phụ… Điều đó làm nên tính chân thật, đa dạng trong các ca từ của ông. Lạc vào thế giới tình ca của ông, mỗi người đều bắt gặp thân phận tình yêu của mình.

Trong bài “Biển nhớ”, viết về mối tình với cô Tôn Nữ Bích Khê, người Nha Trang, một bạn học cùng lớp thời Sư Phạm Quy Nhơn, Trịnh Công Sơn nói lên nỗi chờ mong, da diết:

Ngày mai em đi
Biển nhớ tên em gọi về
Gọi hồn liễu rũ lê thê
Gọi bờ cát trắng đêm khuya
Ngày mai em đi
Đồi núi nghiêng nghiêng đợi chờ
Sỏi đá trông em từng giờ
Nghe buồn nhịp chân bơ vơ…

Chỉ trong một bài Biển nhớ, mà chúng ta bắt gặp đến 2 từ chờ, 3 từ nhớ, 6 từ buồn, 6 từ gọi. Có lẽ chưa có một bản tình ca nào mà nỗi nhớ cồn cào, mãnh liệt đến thế.

Nguyễn Bính cũng từng thương nhớ người yêu khắc khoải qua bài “Tương tư” nổi tiếng:

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Một người chín nhớ mười mong một người
Gió mưa là bệnh của giời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

Xuân Diệu cũng không kém phần mãnh liệt trong bài “Tương tư, chiều”:

Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh
Anh nhớ em, anh nhớ lắm! Em ơi!

Yêu là bắt đầu chuốc lấy tương tư, nhớ mong, khắc khoải đợi chờ. Trong tình ca của Trịnh Công Sơn, chúng ta hay bắt gặp những mối tình dang dở, tan vỡ:

Ngày tháng nào đã ra đi
Khi ta còn ngồi lại
Cuộc tình nào đã ra khơi
Ta còn mãi nơi đây
(“Tình xa”)

Xin vỗ tay cho đều
Khi đêm đổ xuống đời ta
Xin vỗ tay cho đều
Khi tình trôi đã trôi xa
(“Tình xót xa vừa”)

Tình ngỡ đã quên đi
Như lòng cố lạnh lùng
Người ngỡ đã xa xăm
Bỗng về quá thênh thang
(“Tình nhớ”

Trong thơ Nguyễn Bính cũng hay nói đến mối tình đơn phương, một phía, yêu nhưng lại bị hững hờ:

Tâm hồn tôi là một bình rượu nhỏ
Rót lần lần giọt mãi xuống nàng Oanh
Không xua tay nàng vẫn cứ vô tình
Hắt ly rượu hồn tôi qua cửa sổ
(“Tựa đề một thiên tình sử”)

Với Hàn Mặc Tử lại là tiếng kêu thống khổ của tình yêu tan vỡ:

Họ đã xa rồi khôn níu lại
Lòng thương chưa đã, mến chưa bưa
Người đi: một nửa hồn tôi mất
Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ?
(“Những giọt lệ”)

Tình yêu trong ca từ Trịnh Công Sơn buồn, đau một cách lặng lẽ. Ông kể lể, thì thầm như tự an ủi chính mình. Không quằn quại, tuyệt vọng như Hàn Mặc Tử, không mặc cảm như Nguyễn Bính, không vội vã cuống quýt như Xuân Diệu. “Vì tình yêu của Trịnh Công Sơn là chiếc bóng lung linh, thấp thoáng, chập chờn: “tình không xa nhưng không thật gần…” (“Như một lời chia tay”), thoắt ẩn thoắt hiện: “rộn ràng nhưng biến nhanh…” (“Tình sầu”). Những mối tình “không hẹn mà đến, không chờ mà đi” (“Bốn mùa thay lá”), nghĩa là chẳng có hẹn hò, thề thốt, ràng buộc gì nhau. Tất cả chỉ là tình cờ: “Ta gặp tình cờ như là cơn gió (“Hoa vàng mấy độ”), “coi như phút ấy tình cờ” (“Nguyệt ca”). [2]

Trong “Thủ bút Trịnh Công Sơn” có viết: “Khi bạn hát một bản tình ca là bạn đang muốn hát về cuộc tình của mình. Hãy hát đi đừng e ngại. Dù hạnh phúc hay dở dang thì cuộc tình ấy cũng là một phần máu thịt của bạn rồi”. [3] Điều ông nói quả thật đúng; hơn thế nữa, khi lắng nghe một bản tình ca cũng là khi “lắng nghe im lặng cuộc tình” (“Tôi đang lắng nghe”).

Theo Lê Hữu, thực ra, Trịnh Công Sơn thích nói về tình phụ hơn là tình yêu, vì ông nghĩ hầu như ai đến với ông cũng chỉ chực chờ phụ rẫy ông vậy. “Cái may ở đời là được yêu và đôi khi cái may ở đời là bị phụ tình”, ông nói thế. Và những tình phụ, phụ tình vẫn trải đầy trong những ca từ của ông. [4]

Ru em phụ rẫy trong ta…
Yêu em, yêu thêm tình phụ…
(“Ru em”)

Em phụ tôi một thời bé dại…
Trả nợ một đời em đã phụ tôi…
(“Xin trả nợ người”)

Trịnh Công Sơn cũng viết về duyên và nợ, những món nợ tình chẳng bao giờ thanh toán nổi:

Trả nợ một đời không hết tình đâu
(“Xin trả nợ người”)

Trong những tình khúc Trịnh Công Sơn, tình yêu vừa là mật ngọt, vừa là mật đắng:

Tình yêu mật ngọt, mật ngọt trên môi.
Tình yêu mật đắng, mật đắng trong đời…
(“Lặng lẽ nơi này”)

Tại sao lại như vậy? Trịnh Công Sơn không có lời giải thích, chỉ nghe ông nói: “Con người không thể sống mà không yêu. Có người yêu thì hạnh phúc, có người yêu thì đau khổ. Nhưng dù đau khổ hay hạnh phúc, con người vẫn muốn yêu. Tình yêu vì thế mà tồn tại”. [5]

Những chuyện tình ông viết thường là những chuyện tình lặng lẽ, không sóng gió, không sôi nổi, nhưng không phải là không đắm say, nồng nàn:

Tôi xin làm cây xa, đứng nhìn em rực rỡ
Tôi xin làm nụ cười, chờ em giữa đôi môi
Tôi xin làm mộng nhỏ, em vừa giấc ngủ say...
(“Vì tôi cần thấy em yêu đời”)

Trịnh Công Sơn mơ ước làm giấc mộng để ru em vào giấc ngủ say. Còn Huy Cận lại mơ ước hầu quạt cho em ngủ:

Nắng chia nửa bãi: chiều rồi…
Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu
Sợi buồn con nhện giăng mau
Em ơi! Hãy ngủ… anh hầu quạt đây.
(“Ngậm ngùi” – Huy Cận)

Ru người yêu ngủ ai mà chẳng trìu mến, nhưng đến mức nhẹ nhàng, trân trọng như Huy Cận thì có lẽ không nhiều. “Mở lòng cùng quạt, và thả trăm con chim mộng quấn quýt quanh giường em nằm là một hình ảnh đẹp nên thơ và lãng mạn ít thấy trong thơ ca Việt Nam”. [6]

Nhưng phải đến Trịnh Công Sơn, hình ảnh trong thơ tình Việt Nam mới diễm ảo và bước sang một bước ngoặt mới – bắt đầu từ tình khúc “Diễm xưa” – mối tình đầu của Trịnh Công Sơn với âm nhạc Việt Nam. Trịnh Công Sơn nói: “Tôi chỉ có những mối tình lãng đãng, khói sương, hoàn toàn không có gì cụ thể. “Diễm xưa” cũng là một loại tình yêu như vậy.” [7]

Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ
Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao
Nghe lá thu mưa reo mòn gót nhỏ
Đường dài hun hút cho mắt thêm sâu…
(“Diễm xưa”)

Bích Diễm của “Diễm xưa”
Bích Diễm của “Diễm xưa”
Kể từ “Diễm xưa”, “kể từ Trịnh Công Sơn trở đi, các tình khúc đã đổi khác rất nhiều, và nền tân nhạc phải cảm tạ ông về sự khai phá đó”. Nữ ca sĩ Quỳnh Giao đã có lời nhận định như vậy. [8]

Trước “Diễm xưa” làm gì có những “ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau”, “làm sao em biết bia đá không đau?” Tình yêu phả hơi thở, truyền cảm xúc đến cả những vật thể vô tri, vô giác. Bằng những ca từ như vậy, Trịnh Công Sơn đã vẽ ra những khuôn mặt tình yêu hoàn toàn khác lạ, không hình dung nổi khuôn mặt ấy ra sao, có hay không, thực hay ảo?

Đọc ca khúc “Diễm xưa” của Trịnh Công Sơn, tôi chợt liên tưởng đến một nhạc phẩm cũng rất nổi tiếng của Phạm Duy “Ngày xưa Hoàng Thị” phổ thơ của Phạm Thiên Thư. Bài thơ “Ngày xưa Hoàng Thị” của Phạm Thiên Thư kể về mối tình của nhà thơ với cô Hoàng Thị Ngọ, một bạn học cùng lớp, ở gần nhà ông. Bài thơ cũng có hình ảnh thiếu nữ vai gầy, tóc dài bay, áo trắng tinh khiết ôm cặp đến trường, đi dưới hàng mưa. Nhưng ở đây là Sài Gòn không phải Huế, nên nàng không đi dưới hàng cây long não lá li ti, mà đi dưới cội hoa vàng.

Em tan trường về / Đường mưa nho nhỏ / Chim non giấu mỏ / Dưới cội hoa vàng / Bước em thênh thang / Áo tà nguyệt bạch / Ôm nghiêng cặp sách / Vai nhỏ tóc dài / Anh đi theo hoài / Gót giày thầm lặng / Đường chiều úa nắng / Mưa nhẹ bâng khuâng… / Phố ơi? Muôn thuở / Giữ vết chân tình / Tìm xưa quẩn quanh / Ai mang bụi đỏ / Dáng ai nho nhỏ / Trong cõi xa vời / Tình ơi?... Tình ơi?...

(“Ngày xưa Hoàng Thị”thơ Phạm Thiên Thư – Phạm Duy phổ nhạc) [9]

Có lẽ tình yêu ở Trịnh Công Sơn và Phạm Thiên Thư thời ấy là một thứ tình yêu hương hoa, lãng đãng, xa cách. Hằng ngày các chàng trai chỉ có thể dõi mắt ngóng em đi học về dưới hàng mưa, hay dạn dĩ hơn lặng lẽ đi sau em để ngắm nhìn là lòng đã thấy hạnh phúc. Trịnh Công Sơn trả lời phỏng vấn: “Ngày xưa, dường như cả thế hệ tôi là như vậy, yêu một mái tóc, một dáng hình, mỗi ngày chỉ cần nhìn thấy mặt nhau, thấy em qua khung cửa sổ là cả ngày thấy vui”. [10]

Nói như Bửu Ý: “Tình yêu thời ấy, chỉ rộn ràng bề mặt, như viên đá trong cốc, như hòn đá ném xuống ao. Lanh canh một lát, gợn sóng một hồi, rồi đâu lại vào đó, lấy lặng lẽ làm vốn liếng, uống tình lắng xuống, trả em vào đời và “tôi thu bóng tôi”. Loại tình yêu này không còn tồn tại, chỉ còn lẩn lút trên những trang giấy đã ngả vàng. Ngày nay tình yêu đã thay đổi chủ trương rồi thì phải: chớp nhoáng, trao đổi, chiếm đoạt…, cho nên tình yêu theo lối Trịnh Công Sơn đem lại một hương vị xa xôi làm mềm cả trái tim sắt đá nhất, và ai nấy ngưỡng vọng như một bái vật đặt trên đài cao để cho tưởng tượng vươn tới”. [11]

Thời đại ngày nay, những cuộc tình đầy nhục cảm, thoáng qua có lẽ đang “lên ngôi”, vì vậy tình yêu trong sáng, chung thủy, nghĩa vợ chồng trở nên quý hiếm. Trong văn chương xưa đã hiếm, nay càng hiếm hơn. Làm sao tìm được những vần thơ như:

Đập cổ kính ra tìm lấy bóng
Xếp tàn y lại để dành hơi
(Bài thơ Vua Tự Đức khóc nàng Bằng Phi) [12]

Thế nhưng, trong muôn vàn tình yêu lãng đãng, khói sương của Trịnh Công Sơn, thật thú vị khi chúng ta bất ngờ bắt gặp một tình yêu thiêng liêng ở “Hạ trắng”:

Đời xin có nhau
Dài cho mãi sau
Nắng không gọi sầu
Áo xưa dù nhàu
Cũng xin bạc đầu
Gọi mãi tên nhau

Tự Đức muốn đập cổ kính ra tìm lấy bóng nàng Bằng Phi, xếp manh áo cũ để lưu giữ chút hương thừa của người vợ xưa, còn Trịnh Công Sơn lại mong ước có một tình yêu bền lâu cho đến bạc đầu, để ca ngợi nghĩa vợ chồng keo sơn, gắn bó. [13]


*

Đối tượng chính trong tình yêu - người nữ, xuất hiện khá nhiều trong ca từ Trịnh Công Sơn. Em thường là những thiếu nữ buồn, yếu ớt, xanh xao, có vóc dáng mảnh mai, mong manh, vai gầy guộc, tóc xoã bay ngang trời… mờ mờ, ảo ảo như một bức tranh phi thực (irréel).

Em có vẻ tiểu thư khuê các:

Tìm em tôi tìm
Mình hạc xương mai…
Nụ cười mong manh
Một hồn yếu đuối…
(“Đóa hoa vô thường”)

Gọi nắng, trên vai em gầy đường xa áo bay…
Cho tay em dài gầy thêm nắng mai…
(“Hạ trắng”)

Nắng có hồng bằng đôi môi em, mưa có buồn bằng đôi mắt em…
Vai em gầy guộc nhỏ, như cánh vạc về chốn xa xôi
(“Như cánh vạc bay”)

Với ông, cái đẹp của người con gái là cái đẹp mong manh, thanh thoát: với gót sen hồng, miệng ngọt hạt từ tâm, ngón xuân nồng, đôi môi lửa cháy, mi cong cỏ mượt, tay xanh ngà ngọc, da thơm quả ngọt, môi hồng đào

Có lẽ các nhạc sĩ nổi tiếng như Phạm Duy, Văn Cao đôi khi có chung một “goût” về kiểu người đẹp như Trịnh Công Sơn.

Hãy nghe Văn Cao viết về người tình tưởng tượng của ông: gót hài khai hoa; mắt huyền lưu xuân, dáng hồng thơm hương… (“Cung đàn xưa”) Và Phạm Duy tả người tình thực của mình với gót hoa, em thướt tha, mây tóc ngà, đường thơm bóng gầy… (“Đường em đi”)

“Trước hết, với Trịnh Công Sơn, Em là người mà “một ngày tình cờ biết em, là ngày lạ lùng nhất trần gian”. Em là “hoa lá giữa thiên nhiên hiền hoà”. Em là người mà ông muốn “yêu em thật thà”. Ông “xin năm ngón tay em thiên thần” và “ru em ngồi yên nhé” để ông “tìm cuộc tình cho”. Chính vì thế mà “Tôi đã yêu em bao ngày nắng, tôi đã yêu em bao ngày mưa”. Nhưng bất hạnh thay, trong tình yêu “đã có nghìn trùng trên môi người tình, đã giấu nụ tàn bên trong nụ hồng, có chớm lạnh lùng trên môi nồng nàn”. [14]

Như có lần Đặng Tiến đã để ý, người phụ nữ Việt Nam trong ca khúc Việt Nam, thơ ca Việt Nam thường là những phụ nữ ẩn nhẫn, thụ động: biến thành tượng đá, ngồi đan áo, ôm đàn, hay đi hái hoa, hái mơ, gánh thóc, dệt lụa:

Từ những phụ nữ trong ca khúc tiền chiến:
  • Người biến thành tượng đá ôm con… (“Hòn vọng phu I”- Lê Thương)
  • Đêm qua mơ dáng em đang ôm đàn dìu muôn tiếng tơ… (“Dư âm” - Nguyễn Văn Tý)
  • Cô hái hoa tươi, hãy dừng bước chân… (“Mơ hoa” - Hoàng Giác)
Đến những phụ nữ trong Thơ Mới:

- Em là con gái trong khung cửi
Dệt lụa quanh năm với mẹ già
("Mưa xuân" - Nguyễn Bính)

- Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?
(“Mùa xuân chín” - Hàn Mặc Tử)

- Này lắng nghe em khúc nhạc thơm
Say người như rượu tối tân hôn
(“Huyền diệu” - Xuân Diệu)

Trong khi đó, người phụ nữ trong ca từ của Trịnh Công Sơn không thấy gảy đàn, đan áo, gánh thóc hay dệt lụa gì cả. Mà chỉ… khi nghiêng vai, khi nghiêng sầu (“Mưa hồng”), khi tung tăng dưới hàng me (“Tuổi đời mênh mông”), lúc đứng lên gọi mưa vào hạ (“Gọi tên bốn mùa”), khi lại cười khúc khích trên lưng (“Quỳnh hương”)…

Và nhà phê bình Đặng Tiến còn nhận xét: “Người phụ nữ trong Trịnh Công Sơn đẹp dung dị và tự do bình thường. Tự do với cuộc đời, với tình yêu. Trong xã hội Việt Nam, cho đến hôm nay, chưa chắc gì người phụ nữ đã được giải phóng và được tôn trọng đúng mức.” [15] Trong ca khúc Trịnh Công Sơn, họ được giải phóng và tôn trọng. Tôn trọng người phụ nữ, trân trọng và nâng niu họ rất hồn nhiên và chân thành: ông sẵn sàng làm viên đá cuội để lăn theo gót hài của nàng. Và vì nâng niu và trân trọng phụ nữ như vậy, nên Trịnh Công Sơn là một trong những nhạc sĩ viết lời ru nhiều nhất về tình ca trong đó không ít dành cho phụ nữ: Ru tình, Rơi lệ ru người, Ru đời đã mất, Ru đời đi nhé, Ru em, Ru em từng ngón xuân nồng, Ru ta ngậm ngùi… Những lời ru ông viết, ảnh hưởng rất nhiều nơi người mẹ của ông. Chính những bài ru của mẹ mà ông được nghe, tiếp tục theo ông mãi trên những đoạn đường dài nhất. Trong bài “Tình yêu tìm thấy”, chúng ta nghe được bài hát ru ấy:

Tiếng ru mẹ hát những năm xưa
Mãi là lời ca dao bốn mùa
Tìm thấy nỗi nhớ từ mỗi chiếc lá
Góc phố nào cũng thấy quê nhà…

Bùi Bảo Trúc cho rằng, những bài hát ru của người mẹ là những vỗ về, là những dỗ dành, là những an ủi, là những vuốt ve đầu tiên của đứa bé. Vòng tay thơm, giọng hát ấm áp của mẹ sẽ đem lại cảm giác an toàn cho con người trước khi bị đẩy ra thế giới hung bạo bên ngoài. Trịnh Công Sơn đã tìm thấy trong những bài hát ru ấy chốn trú ẩn bình yên. [16] Đó là lý do ông viết rất nhiều ru khúc trong quá trình sáng tác của ông.

Ông Ru tình: Ru em đầu cơn gió, em hong tóc bên hồ / Khi sen hồng mới nở, nụ đời ôi thơm quá / Ru em ngồi yên đấy, ru tình à…ơi. Ông Ru đời đã mất: Ta biết em đêm đêm chờ đợi tiếng hát / Ta biết em đêm đêm ru đời đã mất. Ông Ru em từng ngón xuân nồng: Ru mãi ngàn năm / Vừa má em hồng / Bàn tay đưa anh đến quê hương vàng son… Ông ru người yêu ngủ trong những sớm mùa đông, những sớm mùa xuân, ông ru mãi, ru hoài. Ru những tháng âm u, ru những chia xa, những phụ rẫy, ngọt bùi. Những ru khúc của ông đã đem lại những an ủi, vỗ về cho nhiều thế hệ. Nhưng trên hết là ông tự ru chính mình. Những lời ru an ủi, vỗ về kiếp sống của mình, cuộc tình của mình.

Có lần nhà báo Diễm Chi phỏng vấn: “Ông có rất nhiều những bài hát ru… Trong thực tế, có phải ông đã từng ru rất nhiều phụ nữ ngủ?”. Trịnh Công Sơn trả lời: “Ru như thế không phải là ru em mà thực chất là tôi tự ru tôi, tự ru để thanh lọc tâm hồn không vương một chút oán hờn nào, cho dù bị phụ rẫy.” [17]


*

Vượt qua tự tình dân tộc, vượt qua tình yêu riêng tư để đến với tình người là đỉnh cao nhất của âm nhạc Trịnh Công Sơn.

Anh Ngọc từng nhận định: “Định mệnh đã bắt anh phải yêu thương. Định mệnh lại trao vào tay anh cây đàn và chiếc bút. Và thế là chúng ta có Trịnh Công Sơn, chúng ta có nhạc Trịnh. Con người ấy sinh ra để mà yêu và từ yêu thương lại sinh ra tất cả.… Trước những xấu xa, tăm tối của đồng loại, con người này không tự đứng ngoài hay đứng cao hơn tất cả – có phải vì trong bản chất của nghệ thuật chân chính vốn đã mang thiên lương của con người, thứ thiên lương cao quý của phẩm chất Chúa Trời. Xin hãy nghe:

Chiều đi lên đồi cao hát trên những xác người
Tôi đã thấy, tôi đã thấy những hố hầm đã chôn vùi thân xác anh em.
Mẹ vỗ tay reo mừng chiến tranh
Chị vỗ tay hoan hô hòa bình
Người vỗ tay cho thêm thù hận
Người vỗ tay xa dần ăn năn
(“Hát trên những xác người”)

Anh đã đi qua chiến tranh với cái thiên lương như thế. Tôi không biết như vậy là đúng hay sai, chỉ thấy hễ nghe là muốn khóc. Và dù có ai đó nói là đúng hay sai thì tôi cũng chưa thấy một người nào ghét bỏ hay chí ít là lườm nguýt gì anh. Ai có thể ghét bỏ một trái tim đang rỏ máu – nó đang rỏ máu vì chính các người đấy, hỡi con người”. [18] Nhà thơ Anh Ngọc, một đại tá trong quân đội miền Bắc, chỉ biết Trịnh Công Sơn sau năm 1975 mà đã cảm nhận được tình yêu người ấy. Thật đáng trân trọng. Quả chỉ có nhạc Trịnh Công Sơn mới giúp con người đến gần với nhau, vượt qua những hệ luỵ đời thường, vượt qua những tư tưởng trái ngược trên hai chiến tuyến, nhập vào một dòng chảy nhân ái như vậy.

Tình người của Trịnh Công Sơn thể hiện bàng bạc trong những tình khúc viết về quê hương, đất nước với hình ảnh người mẹ, người em. Cái gốc yêu thương của ông là yêu từng con người cụ thể: bé nhỏ, mong manh, nhọc nhằn… trên cơ sở đó mới yêu thương mọi người.

Từ ca khúc đầu tiên “Ướt mi” viết về giọt nước mắt của một nữ sinh phải đi hát phòng trà để đem tiền về nuôi mẹ bị bệnh lao nặng. Giọt nước mắt thuần khiết ấy đã làm bật lên trong ông niềm cảm thông, đau xót. Là nguồn cảm hứng để ông viết những sáng tác đầu đời. Lòng yêu người ở ông đã bắt đầu xuất hiện từ những ca khúc đầu tiên ấy. Và tình người ấy, nó sẽ trải dài, trải dài theo ông suốt cuộc đời.

Ngoài hiên mưa rơi rơi
Buồn dâng lên đôi môi
Buồn đau hoen ướt mi ai rồi
(“Ướt mi”)

Cũng như Trịnh Công Sơn, Phạm Duy cũng có một ca khúc viết về giọt nước mắt rơi, nhưng là giọt nước mắt rơi cho cuộc tình đôi lứa:

Nước mắt rơi cho tình ra đời
Nước mắt theo duyên về xa vời
(“Nước mắt rơi” - Phạm Duy)

Cùng là giọt nước mắt, nhưng có lẽ chúng ta sẽ dễ cảm thấu giọt nước mắt thương mẹ của cô gái hơn là giọt nước mắt khóc thương cho cuộc tình.

Phạm Duy cũng là một nhạc sĩ nổi tiếng với những ca từ đẹp viết về quê hương, đất nước. Ca khúc Bà mẹ quê là ca khúc tiêu biểu cho dòng nhạc quê hương ấy. Bà mẹ quê ca ngợi lòng hy sinh, chí kiên nhẫn của người mẹ Việt Nam trong lao động:

…Trời mưa, trời mưa ướt áo mẹ già
Mưa nhiều, mưa nhiều càng tươi bông lúa
Trời soi, trời soi bốc khói sân nhà
Nắng nhiều, nắng nhiều thì phơi lúa ra
Bà bà mẹ quê! Đêm sớm không nề hà chi
Bà bà mẹ quê! Ngày tháng không ao ước gì
Nhỏ giọt mồ hôi, vì đời trẻ vui…
("Bà mẹ quê" - Phạm Duy)

Và người Mẹ của Trịnh Công Sơn cũng kiên cường, hy sinh như người Mẹ của Phạm Duy nhưng là kiên cường, hy sinh che chở con trong chiến tranh:

Mẹ lội qua con suối
Dưới mưa bom không ngại
Mẹ nhẹ nhàng đưa lối
Tiễn con qua núi đồi
Mẹ chìm trong đêm tối
Gió mưa tóc che lối con đi
(“Huyền thoại mẹ”) [19]

Với tôi, "Huyền thoại mẹ” là một trong những ca khúc có giai điệu đẹp và sâu lắng, nói lên lòng mẹ cao cả của người mẹ Việt Nam.

Yêu thương các bà mẹ, Trịnh Công Sơn còn yêu thương các cô gái thanh niên xung phong, lao động trên nông trường rồi hy sinh ở biên giới Tây Nam:

Trên nông trường không xa lắm
Có đôi chân đi không ngại ngần
Em bây giờ quen mưa nắng
Gánh trên vai vấn vương bụi hồng…
("Em ở nông trường em ra biên giới") [20]

Có lúc ông lại vui đùa cùng các em thơ:

Em sẽ là mùa xuân của mẹ
Em sẽ là màu nắng của cha
Em đến trường học bao điều lạ
Môi mỉm cười là những nụ hoa
("Em là hoa hồng nhỏ")

Tính nhân bản của Trịnh Công Sơn chính là ở đây, ông ca ngợi, yêu thương từng con người bình thường, nhỏ bé. Và từ đó yêu thương mọi người, yêu thương nhân loại. Ông yêu người, yêu đời vì biết kiếp người là bể khổ, cuộc đời thì ngắn ngủi. Ông kêu gọi con người hãy ngồi lại gần nhau: “Lại gần, gần lại với nhau. Ngồi gần nhau hơn. Ngồi kề bên nhau”. Để làm gì? Để “Mơ một ngày Hồng Hà góp Hội Trùng Dương”, để “Mong tìm lại một giấc ngủ bình yên”. ("Lại gần với nhau").

Ông mời gọi mọi người Hãy yêu nhau đi:

Hãy yêu nhau đi khi rừng thay lá
Hãy yêu nhau đi dòng nước đã trôi xa…
Hãy trao cho nhau muôn ngày yêu dấu
Hãy trao cho nhau hạnh phúc lẫn thương đau…
Hãy kêu tên nhau trên ghềnh dưới bãi
Dù mai nơi này người có xa người…

Đây là lời thần chú mở cửa địa đàng. Đây mới thật là tình yêu cứu rỗi. Yêu trong một tình yêu rộng lớn, chung cùng. [21] Trịnh Công Sơn, với quan niệm sống:

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng
("Để gió cuốn đi")

Chính đó là cái tâm, cái tâm thì không tìm kiếm cái gì cho mình. “Cái tâm” chỉ giống như tấm chiếu, để trải ra cho thiên hạ ngồi lên. Trong đạo làm người, đức hy sinh là đức tính cao quý vô cùng, hiến dâng mà không cần đền đáp, đó là sự cao thượng nhất của đức hy sinh. [22]

Hoàng Phủ Ngọc Tường cho rằng: Lòng nhân ái nhu mì và sự bao dung không mặc cả là cốt cách nghệ sĩ hằng có ở Trịnh Công Sơn. Ông cũng viết: Tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người, có nghĩa ông biết chấp nhận sự đau khổ của đời sống.

Tôi nay ở trọ trần gian
Trăm năm về chốn xa xăm cuối trời
("Ở trọ")

Và dù cuộc đời chỉ là cõi tạm, ông vẫn phải sống, phải yêu thương, phải hy vọng ước ao: Cuộc đời có bao lâu mà hững hờ. Quả thật cuộc đời chẳng được bao lâu, trái tim ông đã không bao giờ hờ hững với cuộc đời, ông đã vắt kiệt tình yêu trong trái tim cho cuộc sống, cho những thân phận khổ đau. Chính vì hiểu rõ đất nước cần một trái tim nên ông đã dâng hiến trọn trái tim mình cho đất nước, ông viết:

Và như thế tôi sống vui từng ngày
Và như thế tôi đến trong cuộc đời
Đã yêu cuộc đời này bằng trái tim của tôi…
("Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui")

Như thế thì chúng ta còn muốn điều gì hơn nữa. Người nghệ sĩ đã rút hết tâm trí mình để nhắn gửi những lời “nhỏ máu” đó. Một trái tim tràn ngập tình yêu người. Và có lẽ không ai hiểu rõ ông bằng Khánh Ly - người bạn tri kỷ đời ông: “Từ ông tôi thành danh và quan trọng hơn cả là tôi được thành nhân. Tôi đã sống cùng tên tuổi của ông gần 40 năm, với những lời ông dặn bảo: Phải luôn luôn sống giữa đời với một tấm lòng và sống với người bằng sự tử tế.” [23]

Nói như đại thi hào Nguyễn Du: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”, và cụ Đào Duy Anh khái quát tư tưởng của Trịnh Công Sơn đã hạ một câu chí tình “Cái anh Trịnh Công Sơn này lạ thật, anh ta muốn ôm hết những mâu thuẫn và khát vọng của đất nước vào mình”. [24]

Thật vậy, với thân thể hao gầy và trái tim ốm yếu, Trịnh Công Sơn đã phải đương đầu với bao giằng xé của lịch sử. Mặc người đời phán xét, với tôi, những ca khúc thấm đẫm tình người, ca ngợi cuộc sống của Trịnh Công Sơn vẫn luôn có giá trị trong dòng văn hoá Việt Nam.

Mỗi ngày tôi chọn ngồi thật yên
Nhìn rõ quê hương ngồi nghĩ lại mình
Tôi chợt biết rằng vì sao tôi sống
Vì đất nước cần một trái tim
(“Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui”)

Việt Nam
12/2005

(Ghi chú: Bài viết này đã in trên tạp chí Văn Học số 232, tháng 7&8/2006, California, Hoa Kỳ, tác giả trích đăng một phần, có sửa chữa và bổ sung tháng 2/2008.)

© 2008 talawas



[1]Bửu Ý (2004), Một nhạc sĩ thiên tài, NXB Trẻ.
[2]Lê Hữu, "Ảo giác Trịnh Công Sơn", nguồn http://www.tcs-home.org
[3]Trịnh Công Sơn (1995), Tuyển tập những bài ca không năm tháng, NXB Âm nhạc.
[4]Lê Hữu, bđd.
[5]Trịnh Công Sơn. "Đành vậy với tình yêu", đăng trên báo Đại Đoàn Kết. Nguồn: http://www.suutap.com
[6]Lê Bá Hán (chủ biên), Lê Quang Hưng, Chu Văn Sơn (2003), Tinh hoa Thơ Mới thẩm bình và suy ngẫm, NXB Gíao dục.
[7]Phỏng vấn Trịnh Công Sơn: "Trịnh Công Sơn một cõi riêng thuần khiết cùng cuộc đời". Nguồn Sài Gòn Giải phóng đăng trên mạng http://suutap.com
[8]Tạp chí Văn Học (2001), Chuyên đề đặc biệt về Trịnh Công Sơn, tháng 10&11/2001, California, Hoa Kỳ (tr. 205).
[9]Trọng Thịnh (2005), "Phạm Thiên Thư và ‘Ngày xưa Hoàng thị”, theo báo điện tử Tiền phong 27/11/2005.
[10]Phỏng vấn Trịnh Công Sơn, bđd.
[11]Bửu Ý (2004), Một nhạc sĩ thiên tài, NXB Trẻ (tr 66).
[12]Theo Đặng Tiến: “… đây không phải là thơ Tự Đức mà là thơ Nguyễn Gia Thiều. Từ điển văn học, nhà xuất bản Thế Giới, 2004, cũng ghi nhầm, tôi đã có bài góp ý, đăng ở nhiều báo, trong và ngoài nước, không nghe ai cải chính. Nay xin nhắc lại. Bài thơ nôm "Khóc Thị Bằng" không phải của Tự Đức. Ngô Tất Tố đã chứng minh điều này từ năm 1941, trong cuốn Thi văn bình chú, Lê Mạc Tây Sơn, in lại lần thứ ba, Sài Gòn, 1957, trang 91. Những tuyển tập, toàn tập Ngô Tất Tố xuất bản gần đây không nhắc gì đến cuốn Thi văn bình chú này. Ngoài ra, (dường như) Trần Danh Án (1754-1794) có dịch bài thơ nôm của Nguyễn Gia Thiều ra chữ Hán. Hai câu trên :
Phá toái lăng hoa tầm cựu ảnh
Tùng phong khâm thử hộ dư hương
Sở dĩ có sự gán ghép là vì (dường như) Tự Đức thường ưa sửa thơ thiên hạ, khi nhuận sắc có sửa hai chữ mảnh gương thành cổ kính và manh áo thành tàn y, rồi xếp vào hồ sơ của mình, nên Dương Quảng Hàm mới nhầm ra thơ Tự Đức và trong giáo trình văn học đã ghi là của Dực Tông, rồi người sau cứ truyền tụng như thế. Ngoài Ngô Tất Tố, các chuyên gia thơ cung đình triều Nguyễn, như Phan Văn Dật, Bửu Cầm, đều nói không phải của vua, vì trong thư khố, không tìm thấy vết tích gì bài thơ này, và tên họ một bà phi nào tương tợ. Hơn nữa giọng thơ trữ tình bay bướm, khó có thể là giọng Tự Đức. Sinh thời, học giả Hoàng Xuân Hãn cũng nói vậy (đăng trên talawas ngày 22-11-2006).
[13]Hãy nghe Trịnh Công Sơn kể về giấc mơ Hạ trắng: "(…) Có một mùa hạ năm ấy tôi bị một cơn sốt nặng, nhiệt độ trong người và bên ngoài bằng nhau. Tôi nằm sốt mê man trên giường không còn biết gì. Và bỗng có một lúc nào đó tôi cảm thấy có một mùi hương thơm phủ ngập cả căn phòng và tôi chìm đắm vào một giấc mơ như một cơn mê sảng. Tôi thấy mình lạc vào một rừng hoa trắng thơm ngào ngạt, bay bổng trong không gian đó. Đến lúc tỉnh dậy mình ướt đẫm mồ hôi và tôi nhìn thấy bên cạnh giường có một người con gái nào đó đã đến cắm một bó hoa Dạ lý hương trắng rất lớn. Chính cái mùi thơm của Dạ lý hương đã đưa tôi vào giấc mơ kia. Giấc mơ trong một mùa hạ nóng bức. Trong vùng tôi ở quanh đó chỉ có một nhà duy nhất trồng Dạ lý hương... Sau một tuần lễ hết bịnh. Nghe tin bố một người bạn đang hấp hối, tôi vội vàng đến thăm. Ông chẳng có bệnh gì ngoài bệnh buồn rầu và nhớ thương.(...) Một buổi sáng nọ, cũng theo thường lệ, bà cụ xuống bếp bị gió ngã xuống bất tỉnh và chết. Mấy đứa con (...) chôn cất và giấu ông cụ. (...) Vài ngày sau vẫn chưa thấy bà về, ông mới trầm ngâm hỏi các con có phải mẹ các con chết rồi phải không. Lúc ấy mọi người mới ồ lên khóc. Từ đó ông nằm trên sập gụ một mình cơm không ăn, trà không uống cho đến lúc kiệt sức thì đi theo bà cụ luôn.
Câu chuyện này ám ảnh tôi một thời gian. Và sau đó tôi kết hợp giấc mơ hoa trắng mùa hạ với mối tình già keo sơn này như áo xưa dù nhàu cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau để viết nên bài “Hạ trắng” (Tạp chí Thế giới âm nhạc, số 05/1997, in lại trong NQS_01, tr. 41-42).
[14]Trần Hữu Thục (2001), “Một cái nhìn về ca từ Trịnh Công Sơn”, in trong tạp chí Văn Học tháng 10&11/2001 California, Hoa Kỳ.
[15]Đặng Tiến (2001), “Đời và nhạc Trịnh Công Sơn”, http://www.tcs-home.org
[16]Bùi Bảo Trúc (2004), “Về Trịnh Công Sơn”, in trong tập Một cõi Trịnh Công Sơn, NXB Thuận Hoá, tr 351-375.
[17]Trịnh Công Sơn rơi lệ ru người (2003), NXB Phụ nữ (tr 88).
[18]Anh Ngọc (2004), Nhớ thế kỷ hai mươi, NXB QĐND (tr 285-287).
[19]Trịnh Công Sơn viết "Huyền thoại mẹ": “nhân chuyến ra Quảng Bình thăm bảo tàng cách mạng, nhìn tấm ảnh mẹ Suốt chèo thuyền, tóc xoã bay tung trên bầu trời, và có dịp về thăm các bà mẹ nuôi dấu cách mạng ngày xưa, nghe mẹ kể chuyện, tôi có thể hình dung hết với những tứ nhạc bay cùng mái tóc và cuộc đời gieo neo của mẹ. Tôi cũng có một bà mẹ mà tôi yêu quý nhất. Và "Huyền thoại mẹ" là sự cộng hưởng của nhiều mảng đời của mẹ, để tạc thành hình ảnh thiêng liêng của bà mẹ Việt Nam nói chung”. Phỏng vấn Trịnh Công Sơn, bđd.
[20]Tôi sáng tác "Em ở nông trường em ra biên giới" từ niềm xúc cảm của chuyến đi thực tế xuống nông trường Lê Minh Xuân của đoàn nhạc sĩ thành phố. Chúng tôi đã cùng thức và hát bên nhau quanh ngọn lửa trại cùng các cô gái thanh niên xung phong. Sau đó một năm, tôi được tin cả hai mươi cô gái đêm ấy đều hy sinh ở chiến trường biên giới. Tôi lặng cả người, và cảm thấy đó là nỗi bức xúc không thể yên...” Phỏng vấn Trịnh Công Sơn, bđd.
[21]Hoàng Phủ Ngọc Tường (2005), Trịnh Công Sơn và cây đàn lya của hoàng tử bé, NXB Trẻ
[22]Hoàng Phủ Ngọc Tường (2005), sđd, (tr. 18)
[23]Nhiều tác giả (2004), Một cõi Trịnh Công Sơn, NXB Thuận Hoá, Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây (tr. 460)
[24]Nguyễn Đắc Xuân (2003), Có một thời như thế, NXB Văn Học (tr. 123)

HìnhĐámCướiHuy-Hà

12 thg 2, 2008

Năm chuột ta, nhắc chuyện tây

Bùi Trọng Liễu Cập nhật : 07/02/2008 15:39

Chắc có bạn đọc biết chuyện « Người thổi sáo » (...) Tôi nhắc câu chuyện chuột này, nhưng cũng muốn nói đến những liên tưởng...


Năm chuột ta,
nhắc chuyện tây



Bùi Trọng Liễu


Năm Tý, nhắc đến một câu chuyện phương Tây, và … truyện Tam quốc.

Chắc có bạn đọc biết chuyện « Người thổi sáo », đại khái như sau : Thuở xưa, ở thành phố Hameln nước Đức, có xảy ra tai hoạ chuột, chuột nhiều đến mức chỗ nào cũng có, chúng gặm khoét phá phách đến mức dân chúng không chịu nổi ; ông thị trưởng và chức sắc mới treo biển cầu người có giải pháp trừ chuột. Một ngày kia, có một chàng trai từ đâu đến, nói có phép trừ chuột, nhưng hỏi muốn biết phần thưởng ra sao. Thị trưởng và chức sắc hứa nếu thành công sẽ trả một ngàn đồng tiền vàng. Hai bên giao ước xong, chàng trai kia bèn rút trong bọc ra một chiếc sáo, và bắt đầu thổi, vừa thổi sáo vừa đi qua khắp phố phường. Chuột nghe tiếng sáo, như bị hấp dẫn mê mẩn, chuột to chuột nhỏ kéo nhau ra đường theo người thổi sáo, dẫn chúng ra sông lội xuống nước. Đàn chuột theo sau cũng lội xuống chết đuối hết. Khi đã diệt xong chuột, người thổi sáo trở lại lĩnh thưởng. Thoát được nạn chuột, cả thành phố mở tiệc ăn mừng. Nhưng chẳng ai nghĩ đến lời hứa trả công cho « người thổi sáo ». Chàng này mấy lần nhắc ông thị trưởng và các chức sắc về món ngàn đồng tiền vàng, nhưng họ khất lần. Họ nghĩ rằng món tiền to như vậy, để tiêu xài hội hè cho sướng, cần gì đến lời hứa. Hiểu tâm địa bọn kia, « người thổi sáo » bèn rút trong bọc ra một cây sáo khác. Thổi lên, bao nhiêu trẻ em trong thành phố bị tiếng sáo quyến rũ, như mê hồn, mặc lời khuyên can đe doạ ngăn cấm của mẹ cha, lũ lượt bỏ ra đường bước theo « người thổi sáo » ra khỏi thành, đi mãi đi mãi, không bao giờ trở lại ...

Tôi nhắc câu chuyện chuột này, nhưng cũng muốn nói đến những liên tưởng.

Trước hết, câu chuyện chuột và người thổi sáo này mang tính huyền thoại và tính ngụ ngôn về chữ “Tín”.

Nhưng có thuyết cho rằng nó có một nguồn gốc “thực”, dựa trên sự tích của cái được gọi là cuộc “Viễn chinh chữ thập của trẻ em” (la Croisade des enfants), xảy ra giữa hai cuộc viễn chinh chữ thập “chính thức” thứ bốn và thứ năm (1) : tuy gọi là “của trẻ em”, mà cũng không phải hoàn toàn là của trẻ em ; tuy gọi là “một”, mà kỳ thật là “hai”. Theo mấy sử gia ngày nay thì “Viễn chinh chữ thập” này, ngoài một số trẻ em, còn có sự tham gia của những nông dân nghèo sống bên lề xã hội trong cảnh phụ thuộc, nghĩa là những người mà thuở đó tiếng la-tinh gọi là pueri, gây nên sự lẫn lộn với nghĩa “trẻ em”. Thêm vào đó, “Viễn chinh chữ thập của trẻ em” không phải chỉ có một cuộc mà là có hai cuộc : một cuộc khởi đầu từ Đức, và một cuộc khởi đầu từ Pháp ; có sử gia dùng chữ “đoàn” để bớt sự phân biệt, vì cả hai xảy ra cùng khoảng thời gian (1212) và cùng mục tiêu ; nay tôi cũng tạm dùng từ này : “Đoàn Đức ” và “Đoàn Pháp” cho gọn.

Đoàn Đức là do một thiếu niên tên là Nicolas (tiếng Đức có lẽ viết là Nikolaus?), có nguồn thì bảo là một lái buôn, có nguồn lại bảo đó là một thiếu niên chăn cừu chạc tuổi 14, ở Köln, nói rằng cậu ta thấy một vị thiên thần (ange) hiện ra, kêu gọi cậu ta đi giải phóng Thánh địa (nơi có mộ Chúa Ki-Tô, lúc đó đang trong tay người Hồi giáo ở Cận Đông). Nicolas có tài hùng biện, trong vài ngày lôi cuốn được khoảng hai vạn trẻ em và người lớn. Dọc đường có người theo thêm, có lúc con số lên đến khoảng 3 vạn. Cậu ta hứa hẹn rằng Chúa Trời sẽ ban một phép lạ : Khi nào Đoàn đến thành phố-cảng Genova (Ý), nước biển Địa Trung hải sẽ rẽ ra làm hai (2), để Đoàn có thể tiếp tục đi bộ tới tận Thánh địa! Đoàn này đi dọc theo sông Rhin, qua nhiều thành phố. Họ nghèo không có phương tiện hậu cần, đa số không có giày dép, quần áo ấm, lương thực dự trữ, nên phải xin ăn ở dọc đường khi qua các làng mạc. Dân các làng cũng cố giúp, nhưng họ nghèo; mà năm ấy lại mất mùa, nên số người trong Đoàn chết đói và chết bệnh rất nhiều. Rồi khi vượt qua dãy núi Alpes, thời tiết xấu, bị tai nạn, kiệt lực, khi tới Genova thì chỉ còn khoảng 7 ngàn người. Dù cầu nguyện, cũng chẳng thấy phép lạ (nước biển rẽ ra làm đôi), đa số thất vọng bỏ cuộc, muốn trở về Đức, nhưng không chịu nổi gian nan dọc đường, lại chết thêm rất nhiều; một số thiểu số đành làm thuê làm mướn tại chỗ; những trường hợp hãn hữu trở về quê thì bị người ta giễu cợt. Nicolas và khoảng một ngàn còn lại cố đi tiếp đến Pisa. Ở đó, khoảng một trăm “đoàn viên” tìm được hai chiếc tàu nhận chở đi Thánh địa, nhưng chẳng ai biết là rốt cục tàu đi đến đâu. Số còn lại theo Nicolas đi bộ tiếp, chết đói, chết bệnh, bị giặc cướp giết, đa số phụ nữ bị bắt cóc, phải làm gái điếm trong những nhà thổ, cánh nam giới thì bị bắt làm nô. Không thấy sử biên niên nói đến Nicolas nữa, trừ một vài nguồn kể là rốt cuộc cậu ta đến được Thánh địa, chiến đấu trong đám quân sĩ của cuộc viễn chinh chữ thập thứ 5 và trở nên giàu có khi trở về Köln. Chắc là bịa.

Còn câu chuyện Đoàn Pháp, thì như thế này. Tháng sáu năm 1212, một thiếu niên chăn cừu ở Cloyes tên là Etienne kể rằng cậu ta thấy Chúa Trời hiện ra, có “thông điệp” cho vua Pháp. Tin đồn ra, khoảng 3 vạn người, trẻ em và người lớn, từ khắp nơi theo cậu ta đổ dồn về kinh thành, thuyết vua Philippe Auguste cho phương tiện để tiến hành cuộc viễn chinh. Vua cho diện kiến, nhưng vua không đồng ý cho thực hiện cuộc viễn chinh, và khuyên giải tán phong trào. Không được sự giúp đỡ của nhà vua, Etienne và Đoàn của cậu ta kéo nhau đi từ Vendôme, tiến xuống phía Nam, để đến cảng Marseille, và hy vọng rằng ở đó nước biển Đại Trung hải cũng rẽ làm đôi để họ có thể đi bộ đến Thánh địa (cũng lại câu chuyện phép lạ, như câu chuyện Đoàn của Đức!). Tuy không gặp những trở ngại thiên nhiên trên đường đi từ Vendôme đến Marseille, nhưng đói khát, mệt mỏi và bệnh tật cũng làm chết khoảng hai phần ba đoàn viên trong Đoàn. Và tất nhiên, đến Marseille, dù có thiết tha cầu nguyện Chúa Trời, cũng chẳng thấy nước biển rẽ làm hai. Tuy vậy Đoàn vẫn hy vọng. “May thay”, sau mấy ngày chờ đợi, có hai lái buôn nhận chở Đoàn trên mấy chiếc tàu của họ để sang Thánh địa. Kỳ thật ra, bọn lái buôn này có dã tâm : ra đến biển rồi, chúng nhốt các đoàn viên xuống hầm tàu, tính chở đem bán họ làm nô. Đói khát và bị ngược đãi trên tàu làm chết thêm một số đoàn viên. Mấy ngày lênh đênh trên biển, gặp bão, 2 chiếc tàu trên đoàn 7 chiếc, trôi dạt tới một đảo miền nam nước Ý, cả thủy thủ và đoàn viên đều bị chết đuối. 5 chiếc tàu còn lại chở bọn họ sang Bắc Phi, bán họ làm nô cho người A-rập. Một kết thúc bi thảm.

Đó là gốc gác của câu chuyện chuột.

Nhưng tôi cũng muốn liên tưởng đến các cuộc viễn chinh chữ thập nói chung và rộng hơn. Thánh địa và đặc biệt là Jerusalem đâu có phải là Thánh địa của một đạo, mà là Thánh địa của ba tôn giáo : đạo Do-thái, đạo Ki-tô và đạo Hồi. (Cho nên Jerusalem còn được gọi là “ville 3 fois sainte”, tạm dịch là “thành phố Thánh địa 3 lần”). Trong việc tranh chấp đất đai, có chuyện đạo xen lẫn với chuyện đời, lòng tin xen lẫn với lợi ích và quyền lực.Vì không có khoan dung và chấp nhập chung sống hòa bình, nên mới có sự tranh chấp liên miên đời này qua đời khác, cho đến tận ngày nay. Trong bao nhiêu thế kỉ tranh chấp giữa các quyền lực tín đồ của các tôn giáo khác nhau, mồ hôi, nước mắt và máu đã chảy rất nhiều vì mảnh đất này.


mur

« Bức tường phía tây » di tích còn lại của «Đền thứ hai » đạo Do-thái ở Jerusalem, còn được gọi là « Bức tường than khóc » (Mur des Lamentations), tuy người đạo Do-thái và đạo Hồi đều không chấp nhận tên gọi này.



dome

Dôme du Rocher,
ở Jerusalem, nơi linh thiêng
thứ 3 của đạo Hồi

saint-sepulcre

Nhà thờ Saint-Sépulcre
ở Jerusalem, được phỏng đoán
là nơi xưa có mộ của chúa Ki-tô.


Nhân nói đến Thánh địa và di tích, tôi cũng muốn liên tưởng rằng không thiếu những nơi khác mà khi nhà cầm quyền đổi đạo thì cũng kéo theo đổi đền thờ. Thí dụ như ở Cordoba (Tây-ban-nha). Năm 785, khi vua Hồi giáo chiếm được nơi này, sai mua (?) đất của nhà thờ Thiên chúa giáo San Vincente, và xây trên đó một đền thờ Hồi giáo rất lớn, khởi công vào năm 785 và sau đó mở rộng thêm. Đến năm 1236, khi vua Ki-tô giáo chiếm laị được đất này, thì biến đền Hồi giáo này thành nhà thờ Thiên chúa giáo, còn tồn tại đến nay. Một thí dụ khác: ở Constantinople (ngày nay là Istanbul, Thổ-nhĩ-kỳ), nhà thờ Thiên chúa giáo Haghia Sophia được xây trên nền cũ của đền thờ Apollon (một thần trong thần thoại Hy-lạp cũ), thoạt đầu là vào năm 325 ; sau nhiều lần bị hủy do hỏa hoạn hay loạn lạc, một Nhà thờ Lớn được khởi công xây vào năm 532 và hoàn thành vào năm 537, còn được biết dưới tên gọi (tiếng Pháp) Sainte Sophie. Khi vua Hồi giáo Mehmet II chiếm kinh đô Constantinople này của Đế quốc Byzance (1453), chuyển nhà thờ này thành đền Hồi giáo. Đến năm 1934, dưới nền cộng hòa, đền này trở thành bảo tàng. Ở nước ta, vào năm 1884, cũng có trường hợp Nhà Thờ Lớn Hà Nội, xây trên nền chùa Báo Thiên cũ (3).

cordoba

Bên trong đền Hồi giáo ở Cordoba (Tây-ban-nha) chuyển thành Nhà thờ Thiên chúa giáo cho đến nay.

sophie

Nhà thờ Ki-tô giáo Sainte Sophie chuyển thành Đền Hồi giáo (Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ ), nay là bảo tàng.


Chung sống hòa bình được thì tốt biết bao. Đất đai công hữu hay tư hữu, chiếm đoạt hay tranh chấp càng nhiều thì càng gây đau khổ. Rồi khi đòi đất, cũng không nên quên những “quyền” sở hữu chồng chất theo thời gian : trước mình thì là ai, trước ai đó thì là ai khác nữa, vv. và vv. ? Câu hỏi này làm tôi liên tưởng đến chuyện ông thánh Quan “đòi đầu”.

Thánh Quan đây là Quan Vũ, đời Tam quốc bên Tàu (Ngụy, Thục, Ngô, thế kỉ thứ 3). Theo Tam quốc chí, ông này là em kết nghĩa của Lưu Bị (sau là vua Chiêu Liệt nhà Thục), theo anh lập nên cơ đồ nhà Thục, sau bị Tôn Quyền (vua nhà Ngô) giết. Người Tàu trọng ông ta là người trung nghĩa, thờ làm thánh; một số người nước ta cũng bắt chước thờ ké. Tôi tóm tắt lý lịch ông ta, theo cách nhìn của tôi : Một lần trong chiến trận, Quan Vũ lạc Lưu Bị, nên phải đầu hàng Tào Tháo. Tào Tháo đãi rất hậu. Đến khi Quan Vũ nghe tin Lưu Bị còn sống, bèn bỏ Tào Tháo để đi theo. Qua năm cửa ải, sáu tướng của Tào Tháo cản không cho đi vì chưa được lệnh thả, Quan Vũ đều chém họ chết. Như vậy là về thủy chung – nói một cách văn vẻ cố tôn vinh – là “gặp thời thế, thế thời phải thế” – còn nói bộc trực – tiếng Pháp là “à géométrie variable”, (tôi không biết dịch chính xác ra tiếng Việt là gì, chỉ nhớ là thời còn chiến tranh, có loại máy bay Mỹ mà ta gọi là “cánh cụp cánh xòe”; còn trong trường hợp này, phải chăng nên dịch là “tùy tiện”?). Khi Lưu Bị lên ngôi vua, phong cho Quan Vũ đứng đầu Ngũ hổ đại tướng, thì ông ta giận không chịu nhận ấn tín, vì lẽ rằng trong đám 5 hổ tướng đó, có tướng Hoàng Trung mà ông ta khinh gọi là một anh lính già xuất thân. Sau sứ giả phải can, ông ta mới chịu nhận ấn. Thế là ông ta tự gán giá trị “đẳng cấp cao” cho mình. Một lần ra trận, ông ta bị trúng một phát tên độc ở cánh tay; danh y là Hoa Đà mổ, thì ông ta không chịu để buộc tay, giả bộ không đau cứ ngồi uống rượu đánh cờ, chìa cánh tay cho Hoa Đà cạo vết thương đến tận xương, được nhận lời khen của Hoa Đà là « Tướng quân là người nhà trời ». Thế là ông ta biết lên gân làm “người hùng”. Vua Thục sai ông ta giữ thành Kinh Châu; vua Ngô (là Tôn Quyền) muốn cầu thân, sai sứ giả sang hỏi con gái ông ta cho con trai mình, thì ông ta nổi giận cự tuyệt trả lời rằng “Con (của) hổ không thể gả cho con (của) chó”. Thế là ông ta tự đánh giá mình là vĩ nhân thế giới – thế giới thuở ấy tất nhiên là Tam quốc và các phiên thuộc, cho nên chưa có các công ty kinh doanh tiểu sử vĩ nhân thời toàn cầu hóa ngày nay – và cho là vua Ngô là không “môn đăng hộ đối”. Và bởi ngỡ mình là vĩ nhân nên làm lỡ việc nước, vì vua Ngô giận sai tướng đánh chiếm thành Kinh Châu; ông ta bị bắt không chịu hàng nên bị chém đầu. Người Tàu thương, cho là trung nghĩa thờ làm thánh. Chả biết tác giả truyện Tam quốc có hóm hỉnh không, khen đấy mà cũng lén chê đấy , vì kể rằng : sau khi ông ta bị chém chết rồi, hồn lang thang, đêm thường hiện làm ma, đòi “trả đầu”. Một hôm, hồn tình cờ gặp nhà sư Phổ Tịnh, ân nhân cũ ; nhà sư bèn hỏi : “Tướng quân đánh nhau với quân Ngô, bị họ chém đầu; nay lại hiện lên mà đòi người khác trả đầu. Lúc tướng quân còn sống, qua năm cửa ải, chém sáu tướng, vậy thì đầu của sáu tướng ấy, đòi ai trả ? ”. Theo chuyện, hồn Quan Vũ liền tỉnh ngộ, tạ và biến đi. Vậy thì hồn ông ta cũng biết phục thiện, làm thánh cũng được đấy chứ.

Khổ nỗi “đòi đất” không giống “đòi đầu”, cho nên dễ kẹt. Nhưng ta vẫn cứ nên mơ ước.

Tết là dịp chúc cho một năm mới, hay xa hơn thế nữa, cho một tương lai tốt đẹp hơn. Vậy, cầu chúc cho có được sự chung sống hòa bình ở tất cả mọi nơi.


Bùi Trọng Liễu

Chú thích:


(1) Các cuộc viễn chinh chữ thập có mục đích giải phóng Thánh địa (nơi có mộ Chúa Ki-Tô, lúc đó đang trong tay người Hồi giáo ở Cận Đông). Tất cả có 8 cuộc Viễn chinh chữ thập « chính thức » (tôi dùng từ « chính thức » để chỉ việc có tổ chức, do vua chúa phát động, có quân đội, vũ khí, thuyền bè, hậu cần, vv), xảy ra vào khoảng những năm sau đây : Cuộc thứ nhất (1096-1099); cuộc thứ nhì (1147- 1149) ; cuộc thứ ba (1189 -1192) ; cuộc thứ tư (1202 -1204) ; cuộc thứ năm (1217 -1219) ; cuộc thứ sáu (1228 -1229) ; cuộc thứ bảy (1248 -1254) ; cuộc thứ tám (1270). (Có nguồn nói tới cuộc thứ chín (1291), nhưng hình như vài sử gia coi cuộc Viễn chinh thứ 9 là sự nối tiếp không thành công của cuộc thứ 8) .

(2) Theo Thánh kinh (Bible) của đạo Do-thái và đạo Ki-tô, trong 66 cuốn sách, cuốn sách thứ hai « Xuất hành » (Exode) của Cựu ước (Ancien Testament), có chuyện Moïse (Moses) khi dẫn dân Do-thái thoát khỏi Ai-cập, được phù phép rẽ nước biển làm hai để vượt Hồng hải sang bờ phía đông. Cuốn phim « Mười điều răn » (The ten Commandments) của đạo diễn Cecil B.DeMille (1956) có tả sự tích này, tất nhiên có thêu dệt ít nhiều, và tới nay, vẫn còn nhiều giả thuyết về sự việc thật của việc vượt Hồng hải này mà khoa học chưa soi sáng.

(3) Theo cuốn “Lịch sử thủ đô Hà Nội” của nhóm Trần Huy Liệu, nxb Sử học, 1960, và theo một số nguồn khác, như bài “Từ Chùa Báo Thiên Đến Nhà Thờ Lớn” của Nguyễn An Tiêm http://sachhiem.net/TONGIAO/NguyenAnTiem.php , (có dẫn cuốn “Tang Thương Ngẫu Lục” của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án),

Năm 1883, theo yêu cầu của chính quyền bảo hộ Pháp, kinh lược Bắc kỳ là Nguyễn Hữu Độ nhường đất chùa Báo Thiên cho cố đạo Puginier xây trên đó nhà Thờ Lớn hiện nay ở Hà Nội, khởi công xây năm 1884 và khánh thành ngày 24/12/1886.

Chùa Báo Thiên có cây Tháp Báo Thiên (Bảo tháp Đại Thắng Tự Thiên) là một trong “An Nam tứ đại khí” – bốn công trình bằng đồng (?) thời Lý-Trần nay không còn nữa : tháp Báo Thiên ; tượng Phật chùa Quỳnh Lâm ở Đông Triều, Quảng Ninh, đúc thời Lý (năm nào?) ; chuông Quy Điền của chùa Diên Hựu (1101) đúc to quá, không đưa được vào treo trong một phương đình cao 8 trượng xây bằng đá xanh làm nơi treo chuông, nên bị bỏ ở ruộng có nhiều rùa nên có tên gọi đó; vạc Phổ Minh, thuộc chùa Phổ Minh ở Thiên Trường, Nam Định đúc vào thời vua Trần Nhân tông khoảng (1279-1293).

Tháp và chùa Báo Thiên xây năm 1059 đời vua Lý Thánh tông, được tả là gồm 12 tầng, cao mấy mươi trượng (!?), các tầng dưới xây bằng đá và gạch, tầng trên, bằng đồng. Thế kỉ 13 và 14, bão và sét đánh làm hư hỏng tháp. Năm 1426, tướng nhà Minh là Vương Thông, bị nghĩa quân của Lê Lợi vây trong thành, cùng quẫn quá, lấy đồng của tháp Báo Thiên để đúc vũ khí. Chùa Báo Thiên thì vẫn còn tồn tại cho đến năm 1883, theo các nguồn đã kể.

Bài http://baodaidoanket.net/ddk/mdNews.ddk?id=4200 mới đăng ngày 1/2/2008 dưới đầu đề “Lịch sử cụ thể về một khu đất có tên gọi là phố Nhà Chung ở Hà Nội” của Lê Quang Vịnh, nguyên Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ, có dẫn thêm một số chi tiết. Trong phần chú thích bài này có dẫn : “Báo Thiên Tháp Ảnh: Từ điển địa danh lịch sử văn hóa Việt Nam, NXB Văn hóa- Thông tin, Hà Nội, 1998, tr 92”