30 thg 7, 2008

AnhT,...

VideoMusic&Lyric

Pop

Artists

A - J
‾‾‾‾‾‾‾




















Chris De Burgh
Christopher Cross
Christina Aguilera

Cyndi Lauper








Electric Light Orchestra (E.L.O.)







Faith Hill



Hall and Oates

Huey Lewis & The News

James Blunt
Jay Chou
Jewel
John Denver

K - Z
‾‾‾‾‾‾‾

Kiki Dee
KT Tunstall
Lara Fabian
Laura Branigan
Lou Bega












()





(P!nk)









Sixpence None the Richer
Spice Girls
Suzanne Vega











Vanessa Amorosi






Labels: , , , , , , , ,

27 thg 7, 2008

ViệtNamMáulửaQuêhươngtôi


MỤC LỤC


HOÀNH LINH ĐỖ MẬU

HỒI KÝ CHÍNH TRỊ

* * *

Giaodiemonline.com
2008

PO Box 2301, Westminster, CA.92684

United States of America

Electronic Edition, 2007

Third Edition, 1993

Ninth Printing

Copyright © 1986, 1987 by Đỗ Mậu

Copyright © 1993 by Đỗ Hữu Tài

All Rights Reserved

No part of this book may be used or reproduced in any manner whatsoever without written permission from the author or his designated representative, except in the case of brief quotations embodied in critical articles and reviews.

First published in 1986 by Hương Quê

California, United States of America

LIBRARY OF CONGRESS CATALOGING-IN-PUBLICATION DATA

1. 1. Do Mau, Hoanh Linh – 1917

Viet Nam Mau Lua Que Huong Toi

2. 2. Vietnam – Politics and Government

3. 3. Vietnam – Politics and Religion

4. 4. Biography

ISBN 1-884129-31-5




Lời Giới thiệu của NXB

Lời Mở đầu

* * *

Chương 01

Chương 02

Chương 03

Chương 04

+ Hình ảnh 1

Chương 05

Chương 06

Chương 07

Chương 08

Chương 09

Chương 10

Chương 11

Chương 12

Chương 13

Chương 14

Chương 15

Chương 16

Chương 17

Chương 18

Chương 19

Chương 20

THƯ MỤC

PHỤ LỤC

Phụ lục A

Phụ lục B

Phụ lục C

Phụ lục D

Phụ lục E

Phụ lục F

+ Hình ảnh 2

* * *



<< First

< Previous

Next >

Last >>

Design by GDOL - 2008

25 thg 7, 2008

S.Hawking'Lecture

.
... Bài viết của S. Hawking từ website http://www.vatlyvietnam.org/home/modules.php?name=News&file=article&sid=42

Chúa có chơi trò súc sắc?

[07/07/2006]
Xem hình

Bài này đề cập vấn đề tương lai có thể đoán trước được hay không và tương lai có tùy tiện và ngẫu nhiên hay không. Trong thời cổ đại thế giới có vẻ hơi tùy tiện. Tai họa như lũ lụt và bệnh tật có vẻ như là xảy ra mà không có báo trước, hoặc không có lí do rõ ràng. Người nguyên thủy thì cho rằng những hiện tượng tự nhiên như vậy là do các vị thần gây ra, các vị thần này tính khí thất thường và kì quái. Không có cách gì có thể đoán được hành động của các vị, và chỉ có hi vọng duy nhất để có được sự ưu ái của các vị đó là vật tế thần. Rất nhiều người vẫn phần nào đó tin vào điều đó và cố gắng để có được cơ may. Họ cúng tiến vài thứ nhất định để họ có thể đạt được điểm cao trong kì thi hoặc để lấy được bằng lái xe.



Tuy vậy, dần dần người ta phát hiện ra những qui luật nhất định trong cách xử sự của tự nhiên. Những qui luật này rất rõ ràng trong chuyển động của vật thể trên trời. Do đó thiên văn học là ngành khoa học đầu tiên của loài người. Nó dự trên một cơ sở toán học chắc chắn của Newton, cách đây hơn 300 năm, và đến bây giờ chúng ta vẫn sử dụng lí thuyết của ông về hấp dẫn để tiên đoán chuyển động của hầu hết các vật thể trên trời. Sau thiên văn học, các ngành khoa học khác cũng tuân theo những qui luật tự nhiên nhất định. Điều này dẫn đến ý tưởng về quyết định luận trong khoa học mà người đầu tiên đưa ra ý tưởng đó là một nhà khoa học người Pháp Laplace. Theo ông thì tại một thời điểm nào đó, nếu ta biết vị trí và vận tốc của tất cả các vật thể trong vũ trụ thì ta có thể tính được trạng thái của chúng tại bất kì thời điểm nào trong quá khứ và tương lai. Có một câu chuyện thế này: khi Napoleon hỏi Laplace rằng Chúa có vai trò gì trong một thế giới như vậy? thì ông trả lời rằng “thưa ngài tôi không cần giả thiết đó” Tôi không nghĩ rằng Laplace cho rằng Chúa không tồn tại, chỉ là Chúa không can thiệp vào, không phá vỡ các định luật khoa học mà thôi. Điều này cũng đúng cho mỗi nhà khoa học. Một định luật khoa học sẽ không là một định luật khoa học nếu nó chỉ đúng khi có một vài thế lực siêu nhiên quyết định sự vật chuyển động và không bị can thiệp.

Ý tưởng trạng thái của vũ trụ tại một thời điểm quyết định trạng thái của vũ trụ tại tất cả các thời điểm khác là nguyên lí trung tâm của khoa học từ thời Laplace. Điều đó ngụ ý rằng, ít nhất về nguyên tắc, chúng ta có thể đoán được tương lai. Tuy vậy, trên thực tiễn khả năng của chúng ta để đoán tương lai lại hoàn toàn bị hạn chế bởi tính phức tạp của các phương trình, và thực tế rằng các phương trình đó có một tính chất được gọi là mật trật tự. Những ai đã từng xem phim “Công viên kỉ Jura” sẽ biết, điều này nghĩa là một nhiễu loạn nhỏ về vị trí, có thể gây ra một thay đổi lớn khác. Một con bướm vỗ cánh có thể gây ra mưa tại New York. Vấn đề là điều đó không có tính lặp lại. Lần sau, con bướm vỗ cánh một loạt những sự vật khác sẽ khác đi và cũng sẽ ảnh hưởng đến thời tiết. Do đó dự báo thời tiết rất không đáng tin.

Thay vì những khó khăn thực tiến, chủ nghĩa quyết định luận khoa học vẫn giữ giáo lí của mình trong suốt thế kỉ 19. Mặc dù vậy, trong thế kỉ 20, có hai xu hướng phát triển chứng tỏ lí thuyết của Laplace về tiên đoán chính xác tương lai không thể thực hiện được. Xu hướng đầu tiên là cơ học lượng tử, được Max Planck, một nhà vật lí người Đức, đưa ra lần đầu tiên vào năm 1900 như là một giả thiết đặc biệt để giải thích một nghịch lí. Theo những ý tưởng vật lí cổ điển thế kỉ 19, kể từ thời Laplace, một vật thể nóng, như là một miếng kim loại nóng đỏ chẳng hạn sẽ bức xạ năng lượng. Vật thể đó sẽ mất năng lượng vì bức xạ sóng radio, sóng hồng ngoại, sóng ánh sáng nhìn thấy, sóng tử ngoại, sóng tia X, sóng tia gamma, tất cả các loại sóng đó sẽ bị bức xạ với một tốc độ như nhau. Điều đó không chỉ có ý nghĩa là tất cả chúng ta sẽ chết vì ung thư da mà còn có nghĩa là tất cả mọi thứ trong vũ trụ này đều có một nhiệt độ như nhau, mà điều này hiển nhiên là không đúng. Tuy vậy Planck cho thấy rằng người ta có thể tránh được thảm họa đó nếu chúng ta cho rằng lượng bức xạ không thể có giá trị bất lì liên tục mà thay vào đó bức xạ chỉ phát ra trong một bó hay một số các giá trị gián đoạn (lượng tử). Nó giống như là bạn không thể mua đường trong siêu thị với một lượng bao nhiêu cũng được mà phải là một số bội của một gói đường. Năng lượng của bó hay lượng tử trong vùng sóng tử ngoại hoặc tia X lớn hơn trong vùng sóng hồng ngoại hoặc sóng ánh sáng nhìn thấy. Có nghĩa là trừ vật thể rất nóng, như là mặt trời chẳng hạn, sẽ không đủ năng lượng để phát lượng tử ở vùng sóng cực tím hoặc tia X. Điều đó giải thích tại sao chùng ta không bị cháy nắng từ một cốc cà phê.

Plank xem ý tưởng lượng tử như là một thuật toán mà không có bất kì ý nghĩa vật lí nào. Tuy vậy các nhà vật lí đã tìm thấy những tính chất khác chỉ có thể được giải thích bằng khái niệm lượng tử. Ví dụ một hạt vi mô như là một con quay tí hon, quay xung quanh trục của nó. Nhưng việc quay đó không thể quay bất lì giá trị nào mà là bội số của một đơn vị cơ bản. Vì đơn vị này rất nhỏ nên người ta không thể phát hiện ra rằng một con quay bình thường quay những bước gián đoạn mà chỉ thấy nó quay như là một quá trình liên tục. Nhưng những con quay nhỏ như nguyên tử thì bản chất gián đoạn lại rất quant trọng.

Cũng mất một thời gian trước khi con người nhận ra ý nghĩa của tính chất lượng tử về quyết định luận. Cho đến tận năm 1926, một nhà vật lí người Đức khác là Werner Heisenberg chỉ ra rằng người ta không thể cùng đo được vị trí và vận tốc của một hạt một cách chính xác được. Để xem hạt đó đang ở đâu, người ta cần chiếu sáng hạt đó. Nhưng theo công trình của Planck, người ta không thể dùng một lượng ánh sáng nhỏ tùy ý, mà ít nhất là một lượng tử. Lượng tử ánh sáng đó sẽ làm nhiễu loạn hạt đó và làm thay đổi tốc độ của hạt một cách không tiên đoán được. Để đo vị trí của hạt một cách chính xác thì ta phải dùng một ánh sáng với bước sóng ngắn như tia cực tím, tia X hoặc tai gamma. Nhưng cũng lại theo công trình của Planck, những lượng tử này lại có năng lượng lớn hơn năng lượng của ánh sáng nhìn thấy do đó chúng sẽ làm nhiễu loạn tốc độ của hạt nhiều hơn. Và do đó, nếu ta muốn đo vị trí của hạt chính xác bao nhiêu thì ta lại càng thu được giá trị vận tốc kém chính xác bấy nhiêu và ngược lại. Điều này được tổng kết trong nguyên lí bất định mà Heisenberg đã xây dựng, sự bất định về vị trí, thời gian, vận tốc của hạt luôn lớn hơn một đại lượng gọi là hằng số Planck chia cho khối lượng của hạt.

Nguyên lí bất định mà Heisenberg làm quan điểm của Laplace về quyết định luận khoa học, bao gồm hiểu biết về vị trí của hạt trong vũ trụ tại một thời điểm không còn đúng nữa. Làm thế náo mà ta có thể đoán được tương lai khi mà ta không thể cùng đo được chính xác vị trí và vận tốc của hạt tại thời điểm hiện tại? Không cần biết bạn có máy tính tốt the nào, dữ liệu đầu vào không đúng thí dự đoán đầu ra cũng sẽ không đúng.

Einstein rất không thích thú với tính ngẫu nhiên rất rõ ràng của tự nhiên. Quan điểm của ông được tổng kết trong một câu nói nổi tiếng “chúa không chơi trò súc sắc”. Có vẻ như ông cảm thấy rằng tính bất định chỉ là tạm thời: nhưng vẫn có một sự thực đằng sau đó, nằm trong các hạt, xác định vị trí và tốc độ và tuân theo các định luật xác định và tuân theo tinh thần Laplace. Chúa có thể biết sự thực này, bản chất lượng tử của ánh sáng có thể ngăn chún ta nhìn thấy nó, ngoại trừ thông qua một thấu kính đặc biệt.

Quan điểm của Eistein là cái bây giờ gọi là các lí thuyết biến số ẩn. Các lí thuyết biến số ẩn có vẻ xem như là một cách rõ ràng nhất để tránh nguyên lí bất định trong vật lí. Các lí thuyết này tạo cơ sở cho bức tranh tinh thần về vũ trụ của rất nhiều nhà khoa học và hầu hết các nhà triết học. Nhưng các lí thuyết đó hoàn toàn sai. Nhà vật lí người Anh, John Bell đã phát minh một thí nghiệm có thể phân biệt được các lí thuyết biến số ẩn. Khi thí nghiệm được tiến hành cẩn thận, các kết quả kại không phù hợp với các biến số ẩn. Do đó có vẻ như Chúa bị trói buộc bởi nguyên lí bất định và không thể biết được vị trí và vận tốc của hạt. Tất cả các bằng chứng chỉ ra Eistein là một con bạc lâu năm, thả con súc sắc mỗi dịp có thể.

Các nhà khoa học khác thì sẵn sàng hơn Eistein để biến đổi quan điểm quyết định luận cổ điển thế kỉ thứ 19. Một lí thuyết mới được gọi là cơ học lượng tử do Heisenberg, nhà vật lí người Áo Erwin Schroedinger, nhà vật lí người Anh Paul Dirac đưa ra. Mặc dù cơ học lượng tử đã ra đời được khoảng 70 năm nhưng những người dùng nó để tính toán vẫn chưa hiểu và đánh giá đúng nó. Và nó liên quan đến chúng ta vì nó là một bức tranh hoàn toàn khác về vũ trụ và thực tại. Trong cơ học lượng tử, vị trí và vận tốc của hạt không xác định được chính xác nhưng thay vào đó chúng được biểu diễn bởi cái gọi là hàm sóng. Trong mỗi điểm trong không gian đại diện bởi một con số. Độ lớn của biên độ của hàm sóng xác định xác suất tìm thấy hạt tại vị trí đó. Tốc độ mà tại đó hàm sóng thay đổi từ điểm này sang điểm khác sẽ cho tốc độ của hạt. Ta có thể có một hàm sóng mà đạt giá trị cao nhất trong một vùng rất hẹp. Tức là bất định về vị trí là nhỏ. Nhưng hàm sóng này lại thay đổi lên và xuống rất rất nhanh gần đỉnh của sóng. Do đó tính bất định về tốc độ là rất lớn. Tương tự như vậy chúng ta có tính bất định về tốc độ nhỏ nhưng bất định về vị trí lại lớn.

Hàm sóng bao gồm các thông tin về vị trí và vận tốc của hạt. Nếu bạn biết hàm sóng tại một thời điểm thì giá trị của nó tại những thời điểm khác được xác định bởi một phương trình gọi là phương trình Schroedinger. Do đó ta vẫn có cái gì đó quyết định luận, nhưng nó không phải là thứ quyết định luận mà Laplace đã hình dung. Thay vào việc có thể đoán được vị trí và tốc độ của hạt, tất cả những điều ta đoán được chỉ là hàm sóng mà thôi. Tức là ta chỉ có thể đoán được một nửa những điều mà chúng ta có thể đoán được từ lí thuyết cổ điển thế kỉ 19 (vận tốc hoặc vị trí chứ không phải cả hai). Mặc dù cơ học lượng tử dẫn tới tính bất định, khi chúng ta cố gắng đoán vị trí và vận tốc thì chúng ta vẫn có thể đoán được tổ hợp vị trí và vậ tốc với một tính xác định nào đó. Tuy vậy độ bất định này có vẻ như kém đi cùng với những phát triển mới đây. Bài toán nảy sinh vì hấp dẫn có thể làm cong không-thời gian rất nhiều, có những vùng mà ta không quan sát.

Khá thú vị là Laplace đã viết một bái báo vào năm 1799 về vấn đề một số ngôi sao có một trường hấp dẫn đủ mạnh mà ánh sáng không thể thoát ra được và bị trôn vào trong ngôi sao. Thậm chí ông còn tính toán là một ngôi sao mật độ giống như mặt trời nhưng có khối lượng lớn hơn 250 lần có tính chất đó. Mặc dù Laplace có thể không nhận ra rằng, ý tưởng như vậy cũng đã được một nhà vật lí người Anh, John Mitchell đưa ra 16 năm trước đó. Cả hai ông đã cho rằng ánh sáng là các hạt có thể bị lực hấp dẫn tác dụng và có thể rơi vào các ngôi sao. Nhưng một thí nghiệm rất nổi tiếng do hai nhà vật lí Mĩ là Michenson và Morley vào năm 1887, cho thấy rằng ánh sáng luôn luôn di chuyển với tốc độ 186000 dặm/giờ, không phụ thuộc vào việc ánh sáng đó đến từ đâu. Làm thế nào mà hấp dẫn có thể làm chậm ánh sáng được?

Điều đó rõ ràng là không thể theo các khái niệm về không-thời gian đã được chấp nhận. Nhưng vào năm 1915 Eistein đã đưa ra lí thuyết tương đối rộng. Theo lí thuyết này, không gian và thời gian không còn cách biệt và không phải là những thực thể độc lập nữa. Thay vào đó chúng chỉ là các chiều khác nhau của một thực thể duy nhất được gọi là không-thời gian. Không-thời gian này không phẳng mà bị uốn cong bởi vật chất và năng lượng trong không-thời gian đó. Để hiểu điều này chúng ta hãy xem một tấm cao su, và vật thể đặt trên tấm cao su đó đại diện cho một ngôi sao. Khối lượng của vật thể tạo ra một áp lực lên miếng cao su và vùng cao su quanh vật thể bị cong đi. Nếu ta lăn một hòn bi lên tấm cao su thì hướng chuyển động của hòn bi đó sẽ vị cong đi so với phương chuyển động thẳng ban đầu. Năm 1919 nhóm quan sát người Anh, trong thì nghiệm ở Tây phi quan sát ánh sáng từ một ngôi sao xa đi gần mặt trời trong thời điểm nhật thực. Họ nhận ra rằng ảnh của ngôi sao bị dich chuyển đi so với vị trí bình thường. Điều này chỉ ra rằng hướng của ánh sáng từ ngôi sao xa đó bị uốn cong bởi không-thời gian cong gần mặt trời. Lí thuyết tương đối được khẳng định.

Bây giờ ta đặt vật thể nặng hơn nữa và mật độ cao hơn nữa lên tấm cao su nó sẽ kéo tấm cao su đó biến dạng nhiều hơn nữa. Cho đến một khối lượng và kích thước tới hạn nào đó nó sẽ tạo thành một cái hố sâu không đáy trên tấm cao su và hạt có thể rơi vào đó mà không thể quay trở lại được. Những điều tương tự cũng xảy ra trong không-thời gian của thuyết tương đối. Một ngôi sao sẽ làm cong và biến dạng không-thời gian gần nó, ngôi sao càng đặc và càng lớn thì độ cong càng tăng. Nếu một ngôi sao lớn, sau khi đốt hết năng lượng hạt nhân của nó, lạnh đi và co lại xuống đến một kích thước tới hạn, nó sẽ tạo ra một cái hố sâu không đáy trong không-thời gian mà ánh sáng không thể thoát ra được. Những vật thể như vậy được gọi là những hố đen, do một nhà vật lí người Mĩ John Weeler, người đầu tiên nhận ra tầm quan trọng và vấn đề mà các hố đen đặt ra. Cái tên đó nhanh chóng được chấp nhận. Người Mĩ gợi ý một cái gì đó tối và bí ẩn trong khi đó người Anh đã liên hệ với “hố đen ở Calcuta”. Nhưng người Pháp, tính cách Pháp, nhìn thấy một ý nghĩa “risqué” hơn. Rất nhiều năm họ cho rằng cái tên “trou noir” là tầm thường. Và cuối cùng họ cũng phải chấp nhận cái tên đó. Người phản đối một cái tên như vậy có phải là người thắng cuộc không?

Bây giờ chúng ta đã quan sát về các hố đen trong rất nhiều các vật thể, từ hệ sao đôi đến tâm thiên hà. Nói chung bây giờ người ta chấp nhận sự tồn tại của hố đen. Nhưng ngoài khía cạnh là đối tượng cho những chuyện khoa học viễn tưởng, ý nghĩa của các hố đen đối với quyết định luận khoa học như thế nào? Câu trả lời nằm trong miếng giấy gián trước cửa văn phòng của tôi: “những hố đen là hoàn toàn đen”. Không chỉ có những hạt và nhà du hành vũ trụ không may mắn nếu rơi vào hố đen sẽ không bao giờ quay trở lại được, và cả những thông tin mà họ mang cũng sẽ bị mất mãi mãi, ít nhất là mất đối với vùng vụ trụ của chúng ta. Bạn có thể ném một cái TV, một chiếc nhẫn kim cương hay kẻ thù nguy hiểm nhất của bạn vào hố đen, và tất cả những điều mà hố đen sẽ nhớ là tổng khối lượng và trạng thái quay. John Weeler gọi như thế này “hố đen không có tóc”. Đối với người Pháp, điều này khẳng định tính nghi ngờ của họ.

Khi mà người ta nghĩ rằng những hố đen tiếp tục tồn tại mãi mãi, thì việc mất thông tin có vẻ như không thành vấn đề gì. Người ta có thể nói thông tin vẫn tồn tại trong lòng hố đen. Chỉ có điều là từ bên ngời hố đen người ta không thể nói được nó là gì mà thôi. Tuy vậy tình huống sẽ thay đổi khi tôi phát hiện ra là hố đen không phải là hoàn toàn đen. Cơ học lượng tử buộc hố đen phát các hạt và bức xạ với một tốc độ đều đặn. Điều này làm cho tôi và những người khác cực kì ngạc nhiên. Nhưng sau khi đó thì mọi thứ rất rõ ràng. Điều chúng tôi nghĩ là chân không không phải là trống rỗng mà được lấp đầy bởi các hạt và phản hạt. Những hạt và phản hạt này sinh ra trong một điểm của không-thời gian tách khỏi nhau rồi lại hủy nhau. Những hạt và phản hạt này xuất hiện do một trường (khác không) do ánh sáng hoặc hấp dẫn mang tới. Điều đó có nghĩa là giá trị của trường có vị trí chính xác và tốc độ hoặc tốc độ thay đổi chính xác. Điều này lại mâu thuẫn với nguyên lí bất định đòi hỏi một hạt không thể có đồng thời cả vị trí và tốc độ một cách chính xác. Do đó tất cả các trường đều có một cái gọi là thăng giáng chân không. Do đặc tính lượng tử của tự nhiên, ta có thể giả thích những thăng giáng chân không này dựa vào khái niệm hạt và phản hạt mà tôi đã mô tả ở trên.

Những cặp hạt xuất hiện trong tất cả những biến đổi của các hạt cơ bản. Chúng được gọi là những hạt ảo, vì thậm chí chúng xuất hiện trong chân không chúng ta cũng không thể dùng các máy đo hạt để đo chúng một cách trực tiếp. Tuy vậy những hiệu ứng gián tiếp của các hạt ảo hoặc thăng gián chân không được quan sát trong rất nhiều thí nghiệm, và sự tồn tại của chúng được khẳng định. Xung quanh một hố đen, một thành phần của cặp hạt và phản hạt bị rơi vào hố đen, để lại hạt kia không có bạn đồng hành và không bị hủy. Hạt bị bỏ rơi này cũng có thể bị rơi vào trong hố đen nhưng nó cũng có thể thoát ra một khoảng cách xa hơn khỏi hố đen để trở thành hạt thực và có thể đo được bằng máy đo hạt. Đối với người quan sát đứng xa hố đen thì sẽ thấy các hạt đó được phát ra từ hố đen.

Điều đó giải thích tại sao hố đen không phải là hoàn toàn đen, cũng cần thấy rằng sự phát xạ phụ thuộc vào kích thước của hố đen và tốc độ quay của nó. Nhưng bởi vì hố đen không có tóc, theo như thuật ngữ của Weeller, bức xạ không phụ thuộc vào những cái rơi vào hố đen. Không quan trọng bạn ném một cái TV, chiếc nhẫn kim cương hay kẻ thù nguy hiểm của bạn vào hố đen, những thứ thoát ra luôn luôn là giống nhau.

Vậy thì những điều đó liên hệ gì với quyết định luận, liên hệ gì với chủ đề mà bài viết này đề cập. Điều cho thấy ở đây là những trạng thái đầu vào như TV, nhẫn kim cương và thậm chí con người cũng chỉ có chung một kết cục, ít nhất là đối với người quan sát bên ngoài hố đen. Nhưng trong bức tranh của Laplace về quyết định luận thì có một mối liên hệ một – một về trạng thái đầu và trạng thái cuối. Nếu bạn biết trạng thái của vũ trụ tại một thời điểm trong quá khứ, thì bạn có thể tiên đoán được tương lai. Tương tự như vậy nếu bạn biết được tương lai thì bạn có thể tính toán được những việc đã xảy ra trong quá khứ. Sự ra đời của cơ học lượng tử vào những năm 20 đã làm giảm một nửa khả năng tiên đoán tương lai, nhưng vẫn tồn tại mối liên hệ một – một giữa các trạng thái của vũ trụ tại các thời điểm khác nhau. Nếu con người có thể biết hàm sóng tại một thời điểm thì có thể tính được hàm sóng tại bất kì thời điểm nào.

Tuy vậy với các hố đen, tình trạng lại khó khăn hơn. Tất cả mọi thứ sẽ có cùng một kết cục không phụ thuộc vào những thứ bạn ném vào hố đen đó. Do đó không tồn tại mối quan hệ một – một giữa trạng thái đầu và cuối bên ngoài hố đen. Nhưng vẫn có một mối liên hệ một – một giữa các trạng thái đầu và cuối bên trong và bên ngoài hố đen. Nhưng điểm quan trọng đó là sự phát xạ của các hạt và sóng bởi hố đen sẽ làm cho hố đen mất năng lượng và trở nên nhỏ đi. Thậm chí hố đen có thể giảm đến không và sẽ biến mất. Sau đó thì điều gì sẽ xảy ra đối với các vật thể rơi vào hố đen, với tất cả những người nhảy vào hoặc bị đẩy vào đó ? Họ không thể nhảy ra được bởi vì không có đủ năng lượng hoặc khối lượng còn lại trong hố đen để gửi họ trở lại. Họ có thể sẽ đi đến một vũ trụ khác, nhưng đối với chúng ta, những người đủ không ngoan để không nhảy vào hố đen, việc đi vào một vũ trụ khác hay không chẳng có gì khác biệt. Thậm chí những thông tin về những vật thể rơi vào hố đen cũng không thể thoát ra được và cuối cùng thì hố đen biến mất. Thông tin không thể được truyền đi một cách tự do giống như những thông tin điện thoại của bạn . Truyền thông tin cần một năng lượng nhất định, và khi hố đen biến mất thì nó không có đủ năng lượng để truyền thông tin được nữa.

Tất cả những điều nói trên có nghĩa là đối với những người quan sát trong vùng vũ trụ của chúng ta, thông tin bị biến mất hoàn toàn khi hố đen hình thành và biến mất. Việc mất thông tin có nghĩa là chúng ta sẽ tiên đoán được ít hơn những điều chúng ta nghĩ dựa trên cơ sở của lí thuyết lượng tử. Trong lí thuyết lượng tử, người ta có thể đoán được vận tốc và vị trí của hạt với một độ tin cậy nhất định vì vẫn còn đoán được tổ hợp giữa vị trí và vận tốc. Nhưng trong trường hợp hố đen, việc tiên đoán nói trên được thực hiện cho cả hạt và phản hạt. Nhưng chúng ta chỉ có thể đo được hạt phát ra mà thôi. Thậm chí cả về nguyên tắc ta cũng không có cách nào có thể đo được hạt rơi vào hố đen. Dó đó ta có thể nói rằng hạt bị rơi vào hố đen đó có thể ở bất kì trạng thái nào. Điều này nghĩa là không thể đoán được chắc chắn về hạt thoát ra khỏi hố đen (vì ta chỉ có thể đoán được trạng thái của cặp hạt, một thành phần của nó rơi vào hố đen thì không thể biết, do đó không thể biết thành phần còn lại. Ví dụ : xy = 2, nếu x = 2 thì y = 1, còn nếu x không biết thì cũng không biết y, - Dạ Trạch). Chúng ta có thể tính được xác suất mà hạt có vị trí này hoặc tốc độ kia. Nhưng không có mối liên hệ giữa vị trí và vận tốc của hạt đang xem xét vì mối liên hệ đó lại phụ thuộc vào hạt khác mà ta không thể quan sát được (hạt rơi vào hố đen – Dạ Trạch). Do đó Eistein có vẻ như sai khi nói « Chúa không chơi trò súc sắc ». Không chỉ Chúa chơi trò súc sắc mà thỉnh thoảng Chúa còn làm cho chúng ta lẫn lộn bằng việc reo con súc sắc ở nơi mà chúng ta không thấy được.

Rất nhiều nhà khoa học giống như Eistein tin tưởng sâu sắc vào quyết định luận. Nhưng không như Eistein, họ chấp nhận việc giảm khả năng tiên đoán mà thuyết lượng tử đã chỉ ra. Nhưng như thế cũng nhiều rồi, họ không thích giảm thêm nữa như hố đen đã cho thấy. Do đó họ cho rằng thông tin không bị mất xuống hố đen nhưng họ cũng không tìm được cơ chế cho thông tin quay trở lại. Đó là niềm tin của một con chiên ngoan đạo chung thủy với vũ trụ được an bài do Laplace đã tạo ra. Vũ trụ không xử sự như người ta đã từng nghĩ. Vũ trụ tiếp tục làm cho chúng ta ngạc nhiên.

Ta có thể nghĩ rằng quyết định luận bị phá vỡ ở gần hố đen là không quan trọng vì chúng ta ở cách xa hố đen gần nhất vài năm ánh sáng. Nhưng nguyên lí bất định ngụ ý rằng tất cả các vùng không gian có thể tràn đầy những hố đen nhỏ không nhìn thấy có thể xuất hiện rồi lại mất đi. Ta sẽ nghĩ rằng các hạt và thông tin có thể rơi vào những hố đen này và sẽ bị mất đi. Vì những hố đen như thế rất nhỏ, hàng trăm tỉ tỉ lần nhỏ hơn hạt nhân của nguyên tử nên tốc độ thông tin mất đi là rất nhỏ. Do đó, các định luật khoa học trở nên có tính quyết định. Nhưng trong những trường hợp tới hạn, như vũ trụ thủa ban đầu, hay va chạm của hạt năng lượng cao , thì sự mất thông tin trở nên đáng kể. Điều đó dẫn đến tính không thể tiên đoán trong sự phát triển của vũ trụ.

Tóm lại, vấn đề tôi đã nói là vũ trụ phát triển theo một cách tùy ý hay một cách có thể đoán trước được. Theo quan điểm cổ điển từ thời Laplace, thì tương lai của các hạt được xác định hoàn toàn nếu ta biết vị trí và vận tốc của hạt tại một thời điểm nào đó. Quan điểm này bị thay đổi khi Heisenberg đưa ra nguyên lí bất định cho rằng không thể đoán được chính xác vị trí và vận tốc của hạt. Tuy vậy vẫn có thể đoán được tổ hợp vị trí và vận tốc. Nhưng thậm chí việc tiên đoán khiêm tốn này cũng biến mất khi tính đến tác động của hố đen. Việc mất hạt và thông tin vào hố đen đồng nghĩa với việc các hạt thoát ra là ngẫu nhiên. Người ta có thể tính được xác suất chứ không thể tính chính xác. Do đó tương lai của vũ trụ không phải hoàn toàn được xác định bởi các định luật khoa học và trạng thái vũ trụ hiện tại như Laplace đã từng nghĩ. Chúa vẫn tiếp tục trò chơi súc sắc với chúng ta.
-------
Nguyên văn tiếng Anh
Does God Play Dice?
Stephen Hawking
Người dịch: Dạ Trạch

A.Hepburn

24 thg 7, 2008

23 thg 7, 2008

21 thg 7, 2008

TinhthầnThiềntông

Những nẻo đường đất nước
Tinh thần Thiền Tông
Bài viết được đăng lúc 9:14:01 AM, 05.06.2008

Thiền tông, nhờ lịch sử lâu dài, với những Thiền ngữ tinh diệu kỳ đặc cùng truyền thuyết sinh động, lại chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hóa Á đông xưa và thấm nhuần văn hóa Tây phương ngày nay nên đã cấu thành một thế giới Thiền thâm thúy, to rộng.


Trong thế giới Thiền nầy, các tình tiết khi thì hết sức bình thường, giản đơn như hoa vàng liễu xanh, mày ngang mũi dọc, lúc lại kỳ đặc quái đản khiến người kinh nghi như bụi hồng đáy biển, tuyết trắng trong lò nung. Thiền xa vời huyền bí nhưng lại gần gũi thẳng tuột, bình dị thực tế nhưng lại không hư linh diệu, khó mà nắm bắt, chẳng thể nghĩ suy, chứa đầy những câu đố mẹo hóc hiểm, nhưng càng hóc hiểm càng mời gọi người say mê tìm!
Thiền đối với tâm linh triệu triệu người đã thâm thiết kêu gọi: Về đi thôi, đừng lạc lối quay lại. Mau quay về vườn xưa nhà cũ yên vui của tự thân mình. Thiền căn dặn mọi người Phật tại thân mình, tâm mình là Phật, nếu ai ai cũng ý thức tự tâm thì mọi người đều là Phật. Và cũng vì thế người ta còn gọi Thiền tông là Tâm tông, hay Phật tâm tông.
Đời Đường có thiền sư Đạo Lâm cư ngụ trên nhánh một cây cổ tòng làm bạn cùng chim chóc trong ngọn núi Tần Vọng ở phía Đông nam huyện Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang. Người đương thời gọi ngài là Ô Khoa hòa thượng vì chỗ ngài ở như tổ quạ. Ngày kia đệ tử của sư là Hội Thông đến cáo từ để đi nơi khác. Sư hỏi Hội Thông định về đâu? Thông thưa: "Con vì tầm cầu Phật pháp mà xuất gia bái sư làm thầy. Nhưng từ trước đến giờ thầy chưa từng thuyết pháp cho nghe lần nào, nên con định đi nơi khác để tìm học Phật pháp". Đạo Lâm nói: "Tưởng gì chớ Phật pháp thì nơi đây ta cũng có ít đỉnh!". Hội Thông hí hửng hỏi: "Thế Phật pháp của hòa thượng là thế nào?" Thiền sư bèn rứt nơi áo mình một sợi vải thổi nhè nhẹ về phía Hội Thông. Hội Thông tỉnh ngộ ngay không còn đòi lặn lội đi nơi khác cầu pháp nữa. Đó là truyện tích "Bố mao thị pháp". Thiền tông đã gọi những truyện tích như thế là công án. Về sau công án trở thành một trong những tố chất cốt lõi đặc trưng không thể thiếu của ngữ lục Thiền tông, và chính qua các công án nầy mà phần mật tàng bất khả tư nghì của pháp được lãnh hội qua cảm ứng trực giác...
Tinh thần Thiền tông là một vấn đề không thể dùng ngôn ngữ văn tự nói bàn được, chúng tôi tạm qui nạp lại thành năm phần như sau:
1- Tự chủ (Tự kỷ)
2- Sáng tân (Thích nghi)
3- Sùng thật (Hiện tiền)
4- Bình thường (Giản dị)
5- U mặc (Tếu)

I. Tôn trọng tự kỷ:
Phật tính là cái mà ai ai cũng có đầy đủ giống như vô số sợi chỉ vải trên chiếc áo mà mọi người chúng ta đang mặc, nhưng trong sinh hoạt hằng ngày do chúng ta bị lún trong muôn vàn công việc phiền nhiễu nên vô tình quên khuấy đi, làm lạc mất "tự ngã" mà không biết cái đáng tôn quý nhất, cái trọng yếu nhất chỉ cần phát hiện ở tại thân mình chớ không phải mò tìm đâu đâu bên ngoài. Việc quên bỏ cái trân quí của tự thân để chạy vạy tầm cầu Phật, Thiền đâu đâu bên ngoài, thiền lâm gọi là "Kỵ lư mịch lư", nghĩa là đang ngồi trên lưng lừa sờ sờ mà lại còn mong tìm con lừa ở đâu đâu. Đây là một cách thí dụ gần gũi, dễ hiểu, đầy tính nhân sinh.
Một thuật ngữ khác nhắc nhở chúng sinh đừng coi thường tự thể là pháp luật Hai đời Đường, Tống qui định cấm ngặt việc bắt ép con cái nhà người đem bán làm nô lệ (áp lương vi tiện). Thiền lâm thường dùng thuật ngữ "áp lương vi tiện" để phê phán những người không biết coi trọng tự ngã là chủ, lại làm nô lệ hướng ngoại tầm cầu Phật. Dĩ nhiên các tăng tín đồ Phật giáo không từng bắt ép con cái nhà ai đem bán làm nô lệ cả, nhưng họ đã chạy vạy lao khổ tìm bên đông, hỏi bên tây, để cầu Phật, mà không nhận thức rằng Phật tính chính ở tại tự thân mình, như vậy có khác gì đã đem bán đi tự kỷ, bắt ép tự kỷ từ cương vị con nhà lành tự do giáng xuống thành nô tì, đó há chẳng phải là một chuyện dở cười, dở khóc trong tấm bi hài kịch xảy ra hằng ngày ở thế gian?
Người tu học chẳng những phải phát hiện tự ngã mà còn phải mười phần coi trọng tự ngã nữa mới được, tức phải xác lập tự ngã là tác dụng chủ thể trong quá trình tham thiền học đạo. Đây là điều mà các Thiền sư thường nhấn mạnh. Phật giáo từ ấận Độ truyền sang Trung Hoa và Việt Nam ta ngoài phần tư tưởng còn có cả huyền sử và thần thoại trong đó chứa nhiều chuyện thần kỳ về Phật và Tổ. Những nhân vật Phật, Tổ thần kỳ nầy thần thông quảng đại, pháp lực vô biên, lên trời xuống biển, hiển hiện bất cứ nơi nào, tạo họa giáng phước cho mọi người. Vì thế các tín đồ Phật giáo đã kính cẩn run sợ vái lạy họ sói cả đầu, từ nhân cách khuất tùng ban đầu dần dần chuyển thành nô lệ mê tín mù quáng, tâm tính nhu nhược biến thành thái độ ngoan đạo một chiều. Trong hoàn cảnh đó đã nổ bùng tiếng gầm thét mạ Phật, lỵ Tổ trứ danh của Thiền sư Đức Sơn Tuyên Giám: "Đối với các Tổ đời trước ta có cái nhìn không phải như thế đó! Trong đây chẳng có gì là Tổ sư, Phật, Thánh: Bồ Đề Đạt Ma chỉ là gã Ấn Độ hôi tanh, Thích Ca Mâu Ni chỉ là cây que quẹt phân, Văn Thù, Phổ Hiền chỉ là đứa gánh cứt" (Ngã đối tiên Tổ để khán pháp tựu bất thị giá dạng? Giá lý một hữu thậm ma Tổ sư, Phật, Thánh. Bồ Đề Đạt Ma thị lão táo Hồ. Thích Ca Mâu Ni thị can thỉ quyết, Văn Thù, Phổ Hiền thị thiêu phẩn hán). Lời phủ định Phật Tổ nầy không phải là một biểu hiện của thất kính trịch thượng gì cả mà là tỏ rõ tín tâm tuyệt đối ở tự ngã và hiện thực nhân sinh, là điều mà Phật pháp và Thiền luôn coi trọng. Chả thế mà Tuyên Giám được Thiền lâm đánh giá là người thông hiểu Phật lý, Thiền chỉ bậc nhất!.
Tuy nhiên coi trọng tự ngã, tự tâm là nhận thức và khôi phục bản lai diện mục và giá trị trân bảo của tự ngã tự tâm chớ không phải cuồng vọng tự đại bất thiết thực về cá nhân mình. Thiền một mặt nhận rằng về đại thể ai ai cũng có Phật tính đầy đủ, ai ai cũng có thể thành Phật, nhưng đồng thời cũng nêu rõ trong thực tế cuộc sống nhân sinh ở một chừng mực tương đối của cá nhân nầy đối với cá nhân khác thì căn khí chúng sinh có đủ ba bậc thượng, trung, hạ. Không nên lầm chấp thứ bậc tương đối nầy với quan điểm tổng thể "Nhất như vô khu biệt". Và có nắm được điểm nầy mới có cái nhận thức chính xác về tự kỷ. Phải nhận thức đúng đắn mối quan hệ của tự kỷ với thế giới chung quanh, vị trí thích ứng của tự kỷ trong nhân quần xã hội. Điều nầy như lời ví von của thiền sư Thanh Mãng đời Bắc Tống: "Đáng làm xà nhà thì làm xà, đáng làm cột chống thì làm cột".
Truyền nhân trọng yếu của phái Dương Kỳ là Thiền sư Phật Quả Khắc Cần có lần thượng đường nói: "Ta đây vốn không có lòng mong cầu nhưng nay kho báu tự nhiên mà đến. Trên trời, dưới đất, bên trái bếp kho, bên phải tăng đường, trước là diện Phật, cổng chùa, phía sau là chỗ ngủ, cùng phòng Phương trượng. Còn kho báu ở đâu? Các ngươi có nhìn thấy nó không? Rốt lại thì kho báu ở đâu nhỉ? Khi một cá nhân coi trọng đầy đủ tự ngã, nhận thức đúng đắn tự ngã, ở đúng vị trí thích nghi trong cõi người ta tại "Tam thiên đại thiên thế giới", lòng đầy chân thật, đem cả thân tâm lao vào công tác, dấn thân vào sự nghiệp, thì đó há chẳng phải nhu yếu của tâm linh mình, kho báu của tâm linh mình sao? Trong thời khoản đó, trong hoàn cảnh đó, con người của chúng ta cảm thấy bình tịnh yên ổn, sảng khoái, thanh thản vô ngại thì đó há chẳng phải kho báu đang lấp lánh ánh sáng chiếu ngời đó sao?"
Trong khi duyệt độc ngữ lục Thiền tông, cái làm cho chúng ta giật mình kinh ngạc nhất là thái độ thong dong thanh thản, thậm chí pha chút hài hước của các Thiền sư đạt đạo trong lúc lâm chung. Dùng cụm từ "Thị tử như qui" để hình dung thái độ của họ trước chuyện tử vong của thân mạng thật chẳng có chi là khoa trương khí vị quá đáng, như tháng sáu năm thứ tư niên hiệu Đại Khánh, thiền sư Đan Hà Thiên Nhiên nói với các môn đệ rằng: "Các ngươi hãy chuẩn bị nước nóng để ta tắm gội hầu còn lên đường cho kịp lúc". Tắm gội xong, sư đội nón nang, mang giày, cầm lấy gậy, từ trên giường bước xuống, chân còn chưa chấm đất là đã viên tịch. Hay như thiền sư Đặng ấÍn Phong leo lên Ngũ Đài sơn, tại hang Kim Cương hỏi đồ chúng rằng: "Thiền sư các nơi qua đời trong tư thế nằm hoặc ngồi, ta từng thấy cả. Thế có ai đứng mà hóa không? Chúng đáp "Thưa có ạ?". Sư hỏi: "Còn trồng chuối mà tịch có không?" Chúng đáp: "Thưa chưa từng thấy qua? "Sư bèn lộn đầu trồng chuối mà hóa, thân thể sừng sững y phục phủ xuôi (Cảnh Đức Truyền Đăng Lục quyển 8).
Phong cách thị tịch thong dong này, thấy chép nhan nhản trong các ngữ lục Thiền tông Hoa - Việt chớ không phải chỉ có một hai trường hợp ngẫu nhiên cũng không phải do người đời sau, khi biên tập sách nhồi nặn láo. Các thiền sư đắc đạo trước chuyện ra đi không chút gì âu lo sợ hãi, không vì lưu luyến cuộc nhân sinh mà đưa đến nỗi đau khổ, cũng không vì vướng mắc chuyện đời mà phải di hận hay bất an, trái lại thung dung thông đạt chẳng thiếu cả nét khôi hài, giữ được nhân cách Thiền và tinh thần liên quán nhất trí của Thiền. Thiền sư đối với chuyện tử vong mà giữ được phong cách thản nhiên như thế là nhờ công phu hàm dưỡng từ nhiều phương diện của tôn giáo và nhân sinh, nhưng trong đó có một điều kiện chủ yếu, ấy là nhận thức rõ ràng, chính xác, vị trí thích nghi của tự ngã trong tự nhiên giới, phản ánh Thiền đối với lưu trình của sinh mệnh và quy luật sinh tử đều coi như nhau. Chẳng thế mà thiền sư Hoàng Long Tổ Tâm đời Bắc Tống phải nói: " Phàm muốn truy cứu tới nơi căn nguyên của sinh tử thì phải nhận thức rõ miếng ruộng của mình" (Miếng ruộng của mình" hàm ý chỉ tự thân, tự tâm, tự ngã) (Đại phàm yếu cùng cứu sinh tử căn nguyên, tất tu nhận thanh tự gia để nhất phiến điền địa).
Thiền tông chẳng những đề cao tự ngã trong thiền lý mà cả trong đời thường. Phái nầy chủ trương "Tự làm mà ăn" chớ không trông cậy hoàn toàn vào sự cúng dường của thí chủ. Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải đời Đường khi làm trụ trì ở Bách Trượng sơn Giang Tây qui định thiền tăng phải thường xuyên lao động, trồng rau, cấy lúa, tự cung, tự cấp, và tự mình làm gương trước. Dù tuổi đã cao nhưng thiền sư ngày ngày vẫn cùng chúng tăng chung sức giẫy cỏ, trồng rau khu vườn chùa. Có lần một vị tăng không nỡ để hòa thượng gian khổ nên đã giấu đi dụng cụ làm vườn của hòa thượng khiến ngài không cách nào lao động được thì ngày đó sư cũng từ chối không ăn cơm. Sư nói: "Ngày nào không làm là ngày đó không ăn" Vị tăng đành phải đem cây cuốc của sư trao lại cho ngài. Thiền sư Hoài Hải đem nguyên tắc thiền tăng phải lao động hằng ngày tự cung tự cấp ghi vào quyển sách trứ danh "Thiền môn qui thức" (đời Nguyên biên tập lại thành Bách Trượng thanh quy). Tác phẩm nầy mau chóng lan rộng khắp các tự viện khác và được thiền lâm đời sau lấy làm phép tắc sinh hoạt của tự viện.
Nếu tăng lữ Phật giáo chỉ biết suốt ngày đọc kinh, tọa thiền thì dĩ nhiên phải thoát ly lao động, cuộc sống ỷ lại vào sự cúng dường của các thí chủ. Nếu một ngày nào đó kinh tế xã hội xấu đi, lai nguyên sinh hoạt của Phật giáo sẽ rơi vào khô cạn. Đó là thời kỳ kinh tế tiêu điều xã hội loạn ly của đời mạt Đường tiếp theo Ngũ Đại, các tông phái khác của Phật giáo đều nối nhau suy bại, chỉ còn lại Thiền tông là tự lực cánh sinh, nhờ ăn tiêu sản vật do chính công sức mình làm ra, nên chẳng những tránh được suy bại tiêu vong mà còn phồn thạnh, hưng vượng. Điều nầy thể hiện tinh thần coi trọng thực tế, bạo dạn sáng tân của Thiền.

II. Sáng tân
:
Sơ tổ Thiền tông Bồ Đề Đạt Ma từ Tây thiên qua Đông độ truyền chánh pháp độ mê tình từ đời Vũ Đế nhà Lương, nhưng đỉnh cao hưng thịnh của tông này là ở thời mạt Đường kế đến Ngũ Đại. Trong thời gian này đã xảy ra đại nạn Vũ Tông diệt Phật cùng những sự kiện, những biến thiên trọng đại trong lịch sử như các cuộc nổi loạn, quân phiệt cát cứ, xã hội xáo trộn, kinh tế suy thoái. Các tông phái khác của Phật giáo phải chịu nhiều sứt mẻ nghiêm trọng, đưa đến diệt vong, chỉ có cây đại thọ Thiền tông là đứng vững, các hệ phái của Thiền phát triển sum sê, môn diệp hưng vượng, tinh anh nở rộ, danh tiếng vang dội. Lúc đó trong thiên hạ không chùa nào là chẳng phải Thiền viện, các nhân vật trọng yếu trong guồng máy của triều đình, trên từ Hoàng đế, tể tướng cùng các đại quan hiển quí, dưới từ phương bá các châu quận cho đến quan liêu các phủ huyện, nhiều người tới lui giao thiệp với thiền sư, người thì tâm tình thân mật, kẻ lại chịu Thiền lèo lái. Ảnh hưởng của Thiền tông lan rộng đến Nhật Bản, Triều Tiên và Việt ta. Tại các nước nầy trong triều ngoài quận đâu đâu cũng sản sanh hứng thú cùng cảm tình nồng hậu. Thế là Thiền tông Trung Quốc đã truyền bá sang các lân bang, mở rộng thiền phong ngàn năm.
Sự thành công lớn lao của Thiền tông nguyên nhân chủ yếu nhất là nhờ Thiền cụ bị mạnh mẽ tinh thần sáng tân, và sùng thượng thật tế. Giờ xin bàn trước về sáng tân.
Phật giáo ấận Độ truyền sang Trung Quốc từ đời nhà Hán rồi trải các đời Ngụy, Tấn, Nam Bắc Triều đến nhà Đường thì số tín đồ coi như đã đạt một tỉ lệ khá cao so với dân chúng toàn quốc. Tuy nhiên kinh điển Phật giáo quá nhiều, văn lý lại thâm sâu áo bí, giới luật tế mật khắt khe, thời gian tu hành để ngộ đạo phải trải qua tháng rộng năm dài khiến lắm người nghe tới phải chùn bước hoặc ngán ngẩm những khó khăn mà phải bỏ tu. Trước tình huống ấy người thật sự triển khai Thiền Tông Trung Hoa, Lục Tổ Huệ Năng đời Đường , đã đề xuất học thuyết "Đốn Ngộ". Huệ Năng đưa ra quan điểm nhân tính vốn xưa nay thanh tịnh cho nên nếu kiến tính là có thể thành Phật. Trong "Pháp Bảo Đàn" được coi như bộ kinh khai sơn của Thiền tông đã nhấn mạnh: "Nhất niệm tu hành, pháp thân đẳng Phật" hoặc "Nhất niệm nhược ngộ, chúng sanh thị Phật" hay: "Nhất ngộ tức tri Phật dã", "Nhất đăng năng trừ thiên niên ám, nhất trí tuệ năng diệt vạn niên ngu". Đồng thời tổ cũng chỉ rõ người không xuất gia cũng có thể tu hành như người xuất gia chứ không cứ gì phải tu tại chùa mới đắc đạo. Tổ Huệ Năng cũng triển khai tiêu đề đặc biệt "Bất lập văn tự" của Thiền tông, tưởng chừng như vô hình chung hủy bỏ hết điển tịch của Phật giáo, hay nói cho cụ thể hơn là 12 phần giáo mà Giáo tông, tức 12 tông ngoài Thiền tông, luôn tuân thủ nghiên độc. Tiêu đề "Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật, bất lập văn tự" khiến người tu Phật đỡ cái khổ đau đầu nhức óc, tụng đọc kinh văn. Các Thiền sư cũng phản đối tăng tín đồ "tầm ngôn trục cú", "hụp lặn trong vũng lầy kiến giải, chìm đắm trong lý luận nghĩa lý, tri thức". Một trong những người khai sáng tông Tào Động là thiền sư Bổn Tịch có lần nói với tăng chúng: "Toàn bộ Phật kinh cùng Giáo nghĩa chỉ là chữ CHI ( ) và cũng như hình quanh quẹo (Ziczac) của chữ CHI, kinh giáo uốn qua, quặc lại, khiến người không thể thấy được bản tính để mà tỉnh ngộ".
Tuy nhiên dù chủ trương đặc thù của Thiền tông là "Bất lập văn tự, dĩ tâm truyền tâm, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật", dần dần do phải thích nghi với thực tế đời sống xã hội trong đó Thiền tông là một thành phần, mà trong nhân quần thì không phải ai ai cũng có thể lãnh hội qua thị cơ thâm áo, họa hoằn lắm mới có học tăng hội ý tâm truyền của thiền sư nên dần dần do thúc ép của cái chung mà Thiền tông phải co cụm lại nét đặc thù, tức phải dùng hình thức văn tự để truyền thiền pháp mà chủ yếu là ngữ lục. Nhìn chung ngữ lục trải qua các thời đại, chúng ta thấy có một chuyển biến rõ nét là về số lượng thì ngày càng nhiều, còn về bề thế thì ngày càng dày cộm, đồ sộ lên. Trong những đời Đường, Ngũ Đại và những năm đầu đời Bắc Tống, ngữ lục của một số thiền sư kiệt suất như các Tổ sư của Ngũ Tông Nhị phái là các thiền sư Qui Sơn Linh Hựu, Ngượng Sơn Tuệ Tịch, Lâm Tế Nghĩa Huyền, Động Sơn Lương Giới, Tào Sơn Bổn Tịch, Vân Môn Văn Yển, Pháp Nhãn Văn Ich, Dương Kỳ Phương Hội và Hoàng Long Tuệ Nam, số lượng bất quá một quyển, cùng lắm là hai hoặc ba, nhưng về sau nầy thì không phải vậy. "Hư Đường hoà thượng ngữ lục" (Tống Trí Ngu Thiền sư) 10 quyển, "Viên Ngộ Phật Quả thiền sư ngữ lục (Tống Khắc Cần thiền sư) 20 quyển, Đại Tuệ Phổ Giác thiền sư ngữ lục"(Tống Tông Cảo thiền sư) 30 quyển, "Thiện Mục Trung Phong hòa thượng quảng lục" 30 quyển, "Vô Dị Nguyên Lai thiền sư quảng lục" ( Minh Nguyên Lai thiền sư) 35 quyển. Đặc biệt là sự ra đời bộ Bách Nham Lục của Thiền sư Khắc Cần, mặc dù bị thiền giới chê trách cách viết vờn văn múa bút, giồi mài tầm chương trích cú của tác giả, vì họ cho rằng làm như thế là đã đi ngược lại tôn chỉ bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm của Thiền tông khiến đệ tử của Khắc Cần là Tông Cảo đã phải mạnh dạn đem bảng gỗ khắc in bộ lục mà đốt đi, những cũng không tài nào ngăn chặn được bộ sách lưu truyền mạnh mẽ trong Thiền lâm, thậm chí về sau có rất nhiều bộ sách mô phỏng theo Bích Nham Lục tuần tự hành thể
Những hiện tượng trên phản ánh sự cải biên phong khí của Thiền tông, từ " Bất Lập Văn Tự" chuyển sang "Đại Lập Văn Tự", thực tế là từ đời Bắc Tống trở về sau, Thiền tông dần dần coi trọng giáo điển của cổ giáo cùng văn hiến bao đời của bổn tông, coi trọng phương thức truyền thống của Phật giáo dùng việc nghiên cứu văn từ nghĩa lý kinh điển để giải thích Thiền lý. Như vậy Thiền tông cùng các tông phái khác trong Giáo tông đã thu ngắn đáng kể sự khác biệt, không còn nét độc đáo giản hạo, minh quyết, khinh linh, thấu thoát của Thiền tông nguyên xưa.
Người ta hay có thói quen chia Phật Giáo Trung Quốc ra hai loại là Thiền tông và 12 tông còn lại ngoài Thiền tông tức Giáo tông và gọi chỉ ý Thiền tông là Tổ ý và giáo nghĩa của Giáo tông là Giáo ý. Một vấn đề được các thiền giả hay thắc mắc đem ra thưa hỏi các thiền sư đắc đạo là giữa Tổ ý và Giáo ý sự dị đồng như thế nào. Để nắm được ý nghĩa chân xác của vấn đề nầy không gì bằng chúng ta nhìn qua một số ngữ lục danh tiếng được trích dẫn sau đây:
l. Sau khi sư làm trụ trì có học tăng hỏi: "Tổ ý, Giáo ý giống và khác nhau chỗ nào?" Thiền sư Hạo Giám đáp: "Gà lạnh leo cây, vịt lạnh xuống nước" (Sư trụ hậu, tăng vấn: "Tổ ý Giáo ý thị đồng, thị biệt" Sư viết: "Kê hàn thượng thọ, áp hàn nhập thủy") hàm ý chỉ phương tiện tuy khác nhau nhưng mục tiêu là một như để nhằm tránh lạnh giống nhau thì gà và vịt đã dùng hai phương cách đối nghịch, tức con lên cây, con xuống nước.
2. Tăng hỏi: "Tổ ý và Giáo ý giống và khác nhau thế nào?" Thiền sư Qui Nhân đáp: "Bò ngựa thả chăn chung bầy". (Vấn: "Tổ ý Giáo ý thị đồng thị biệt?". Sư viết "Ngưu mã đồng quần phóng), hàm ý phương thức tu tập tuy khác nhau nhưng cũng là Phật giáo.
3. Tăng nhân hỏi: "Tổ ý và Giáo ý giống và khác nhau thế nào?" Thiền sư Việt Nam Tịnh Không đáp: "Muôn dặm trèo non hay vượt biển đều về chầu cửa khuyết" (Vấn: "Tổ ý dữ Giáo ý thị đồng thị biệt?" Sư vân: "Vạn lý thê hàng giai triều khuyết - Thiền Uyển Tập Anh của Việt ) ý nói phương tiện tuy khác nhau để thích ứng với văn cơ từng chúng sinh, nhưng mục tiêu vẫn là một.
4. Tuệ Trung Thượng Sĩ của chúng ta khi được ông tăng hỏi "Tổ ý và Giáo ý giống hay là khác nhau "đã đáp" Sóng nước tên gọi tuy khác (nhưng vẫn đồng thể nước), búp nở vẫn là hoa" để khải thị rằng ý Thiền và ý Giáo tuy hai mà một, tuy một mà hai.
Qua ngần ấy ngữ lục Hoa, Việt chúng ta thấy rằng vì căn cơ và hoàn cảnh của mỗi chúng sanh có sự khác biệt nên phương tiện tu hành cũng cần thích nghi, chớ Thiền tông hay Giáo tông cũng chỉ là Phật giáo mà thôi. Lời phát biểu cực hay sau đây của thiền sư Nguyên Lai đời Thanh nêu rõ sự quan hệ chí thiết giữa Thiền và Giáo: "Đại sư Thích Ca Mâu Ni ngồi trên đạo tràng Linh Sơn 49 năm rốt lại nâng hoa thị chúng, cho nên mới có chỉ ý giáo ngoại biệt truyền. Có chuyện ngoài kinh giáo biệt truyền chăng? Tông là giềng lưới của Giáo, Giáo là mắc lưới của Tông. Căng một giềng, thì các mắc lưới đều bung ra. Chỉ biết xử lý các mắc lưới mà không rành giềng mối của chúng là chẳng biết lý lẽ đạo hiệp nhất của Tông và Giáo và điều nầy chẳng khác nào trong đám ngả rẽ lại thêm ngả rẽ nữa. Nếu chịu tìm tòi giềng mối chính trong mớ ngả rẽ chằng chịt kia thì trong Giáo nghĩa đều có Thiền chỉ. Một khi nắm bắt được chỉ ý rồi thì mỗi lời, mỗi chữ đều là Thiền cơ tối thượng. Còn nếu không rành chỉ ý Thiền, lo câu nệ văn tự, thì Tông chỉ biến thành Giáo nghĩa mà thôi"- Nguyên Lai quảng lục quyển 21)
Một vấn đề quan trọng nữa là tuy Thiền tông lấy chữ Thiền làm tên gọi, nhưng lại phản đối phương thức truyền thống chấp trước ngồi thiền trong tu tập. Lục Tổ Huệ Năng đã sắc bén chỉ rõ: "Trụ tâm quán tịnh, ngồi mãi không nằm là bịnh chớ không phải Thiền". (Trụ tâm quán tịnh, trường tọa bất ngọa thị bịnh phi thiền).
Không cần tháng rộng, năm dài đọc kinh, cũng không cần trói buộc thân tâm ngồi Thiền, các hành giả từ tuân thủ một cách máy móc hình thức gông cùm trói buộc thân thể cứng đờ như thây chết đã giải phóng thân tâm khiến tâm linh được thư thích khinh khoái, hoạt bát tự tại làm sao ấy! Nạt Phật chửi Tổ, dè biểu kinh Phật nguyên là những tội đại nghịch bất đạo trong tự viện giờ đã trở thành những cơ ngữ hàng đầu. Truyện tích thiền sư Đan Hà Thiên Nhiên đời Đường cỡi trên đầu tượng đức Đạt Ma, đốt tượng Phật bằng gỗ để sưởi ấm đã trở thành câu chuyện hấp dẫn trong Thiền Lâm..
Thiền là một khoảng trời đất tự do, tự tại của tâm tính.
Thiền là một mảnh ruộng vườn vô câu vô thúc của tâm linh.
Thiền tùy tâm thích ý như thế, là pháp đốn ngộ giải thoát giản đơn dễ thực hành như thế, thì làm sao mà nó không hấp dẫn mọi tầng lớp nhân quần xã hội cho được? Giờ xin sang phần sùng thật.

III. Sùng thật hiện tiền
Thiền sư Tố Tâm, tổ truyền thế thứ nhì của phái Hoàng Long từng nói: "Nếu như kẻ nào chỉ xiển minh lý tự kỷ mà không ngộ hiện tiền thì là người có mắt mà không chân. Còn nếu ai chỉ ngộ chuyện trước mắt mà bất minh lý tự kỷ thì chỉ là người có chân mà mù mắt". Đây quả là một khái thị đầy đủ ý nghĩa vì người mà không mắt thì cuộc sống tối om om, còn kẻ không chân thì chỉ ngồi ì một chỗ. Thiền sở dĩ có thể soi rõ tâm linh, phát hiện ai ai cũng có Phật tính, truyền bá khắp thiên hạ, bền vững mãi ngàn sau, chính là vì Thiền có đủ cả mắt và chân vậy!.
Có một vị Thiền sư trụ trì chùa Thê Hiền ở Lư Sơn từng nói với tăng đồ: "Chỉ cần ra khỏi cửa tăng đường, nhìn thấy ngọn Ngũ Lão Phong, là chuyện tham học một đời coi như đã đủ" Tại sao thế? Vì ngọn Ngũ Lão trong câu nầy là biểu trưng của sự vật hiện tiền. Vậy nhìn thấy Ngũ Lão Phong tức coi trọng hiện tiền vậy.
Thiền sư thường lại hay dùng thuật ngữ "Cước căn hạ" hàm ý đề cao sự thật hiện rõ trước mắt như có người hỏi hòa thượng Phương Hội là tổ khai sáng phái Dương Kỳ "Thế nào là đại ý của Phật pháp?", thì ngài trả lời: "Dưới chân đó (Cước căn hạ). Hoặc như Thiền sư Trọng Nguyên phái Vân Môn cũng thường hay khuyên môn đồ "Hãy nhìn dưới chân mình thôi” (Cước căn hạ khán thủ). Đây là một lời nói cực kỳ bình thường giản dị hiện tiền. "Cước căn hạ" hay "Cước hạ" hàm ý chỉ những gì hiện rõ trước mắt của mỗi người. Để ý những gì trước mắt, coi trọng việc trước mắt, tham ngộ việc trước mất, đầu nhập việc trước mắt là đã có thể đạt được yêu cầu của Thiền "Ưng dụng hiện tiền, tùy xứ giải thoát".
Có người hỏi Thiền sư Sùng Tuệ phái Ngưu Đầu: "Khi Bồ Đề Đạt Ma chưa qua Trung Nguyên thì Trung thổ có Phật pháp không?" thì ngài đáp: "Chuyện hồi sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma chưa qua đông thổ thôi hãy tạm gác lại, chuyện của ngươi hiện giờ thế nào?". Tăng đồ biểu lộ chưa hiểu thì Thiền sư nói tiếp "Vạn cổ trường không, nhất triêu phong nguyệt" nghĩa là "Van cổ trống không, còn sáng sáng cảnh vật hiện bày". Điều nầy cho thấy trong mọi thời đại, mỗi cá nhân đều phải lấy mình là chủ yếu, ngay trước mắt mà tham học lĩnh ngộ, và đó mới chính là yêu cầu thiết yếu của Thiền.
Các Thiền sư thường đem Phật pháp và Thế gian pháp ra giảng luận cùng lúc để đề cao sự thật hiện tiền.
Nữ thiền sư Diệu Tống của tông Lâm Tế khi bình luận câu nói danh tiếng của Thiền sư Văn Yển "Nhựt nhựt thị hảo nhật" (ngày ngày đều là ngày tốt) đã nói: "Câu nói trên đem Phật pháp và Thế pháp cùng bao dung vô tận". Ngoài ra còn có một Thiền sư khác của tông Lâm Tế là Sùng Nhạc đã nói hết sức sắc bén: "Phật pháp và Thế pháp nhìn chung đều hòa hợp nhất trí. Chú trọng hiện thật, tùy cơ ứng biến, giữ gìn đầu óc sáng suốt, về phương diện nầy Thiền và Thế gian pháp tương thông vậy". Thiền sư Hoài Liên phái Vân Môn nói "Chốn Thế pháp bao người mê muội? Nơi Phật pháp lắm kẻ say mèm. Không mê không say là thái độ của ai vậy?" Câu hỏi chẳng cần đáp cũng rõ, đó là bất kể đối với Phật pháp hay Thế pháp, điều chủ yếu là cần phải bảo trì hiện thật, bằng thái độ không mê không say! "

IV. Thiền bình thường giản dị
Cũng cần nói thêm một vấn đề nữa về tinh thần Thiền. Nhiều người trùm lên Thiền một màu sắc áo bí xa xăm, lắm kẻ mong tìm thấy nơi Thiền những gì chẩn mật thâm tàng trong khi Thiền chỉ bình thường giản dị. Thiền sư Trí Thông ở tu học trong đạo tràng của Qui Tông. Bỗng một đêm Trí Thông la lên: "Ta đại ngộ rồi!" làm mọi người kinh hãi. Hôm sau giữa pháp đường đông đủ người, Qui Tông hỏi: "Thầy nào hôm qua nói đại ngộ hãy ra đây?" Khi sư bước ra Qui Tông hỏi: "Ngươi thấy được đạo lý gì mà nói là đại ngộ?". Trí Thông đáp "Ni cô là phụ nữ". Qui Tông hết sức kinh dị gật đầu chứng khả!. Khi thấy được" Ni cô là phụ nữ" là Trí Thông đã thật sự ngộ đặc điểm của Thiền: bình thường giản dị như "Ni cô là đàn bà, tăng là đàn ông"
Thiền sư Đạo Minh hỏi: "Trừ mật ngữ, mật ý vừa nói, còn có mật chỉ chăng?" Lư hành giả (Huệ Năng) đáp: "Những điều ta vừa nói với ngươi không có chi là chỉ ý ẩn mật cả. Nếu ngươi chịu khó hồi quang phản chiếu bản lai diện mục thì mật chỉ chính ở bên ngươi thôi" ( Ngũ Đăng Hội Nguyên quyển 2).
Tăng hỏi: "Thế nào là chốn thâm mật của chư Thánh?" Thiền sư Huyền Tắc đáp "Ngươi chí nên lĩnh hội tự kỷ thôi".
Qua hai đoạn ngữ lục vừa kể trên chúng ta cũng đã thấy Thiền không có cái gì thâm tàng, chẩn mật như bao người hiểu lầm. Thâm tàng hay hiển hiện là tùy cái tâm mê hay ngộ của chúng sinh thôi cũng như thanh hay tục qua câu chuyện sau đây mà từ trước đến giờ người học thiền hay tránh né không dám nhìn thẳng, cũng là do mức độ ngộ Thiền chưa rốt ráo, chưa triệt kiến, còn lầm chấp?.
Ni cô hỏi: "Thế nào lấy ẩn mật?'' Thiền sư Triệu Châu Tùng Thẩm đưa tay bấu "chỗ ấy" của ni cô. Ni cô giẫy nẩy la toáng lên: "Hòa thượng mà cũng còn THẾ ẤY à?!". Sư phân bua: Chính ngươi THẾ ẤY đấy chớ!'' (1)
Đây là một công án Thiền độc đáo, thâm áo mà do vọng chấp nguội ta kết tội nó là thô tục. Thật ra đoạn ngữ lục trên thâm thúy cả về ngữ nghĩa lẫn Thiền lý. Về ngữ nghĩa từ "GIÁ CÁ" có nghĩa song quan: ở lời nói của ni cô nó hàm nghĩa trách móc "TẬT ẤY" nói thẳng ra là "Tật Dê" ở câu trả lời của sư Triệu Châu nó là một dụng ngữ Thiền Lâm vừa có nghĩa "CÁI ẤY"' đồng thời cũng có nghĩa ngầm chê trách" "CÁI TÂM MÊ CHẤP PHÂN BIỆT TÌNH THỨC". Về Thiền lý, thấy ni cô căn cơ thấp kém mà như bao người mới học Thiền khác lắm mệ vọng, hay đem tâm chấp thủ, tầm cầu hỏi han về mật ý, mật xứ là chân lý căn bổn, tức chỗ thâm tàng của Thiền tông là điều bất khả tư nghì không cần phải hỏi bàn, khi mình chưa ngộ, nên Thiền sư đã dùng cách khải thị mạnh mẽ nhất là bấu ni cô để ngầm cho biết "Thiền không có gì mật cả, mật ý tức đạo lý căn bổn của Thiền chỉ giản đơn hiện tiền tại toàn thân ngươi đó!" Quả đúng ni cô là người căn cơ không mẫn tiệp nên thay vì phải lễ bái tạ ơn khải thị, cô lại bộc lộ cho thấy mình vừa không hiểu Thiền cơ vừa nặng kiến chấp nên đỏ mặt lớn tiếng trách Thiền sư sao lại cũng còn tật xấu ấy. Thiền sư dùng nghĩa song quan bồi thêm một nhát búa nữa để chẻ đầu ni cô là "Chính ngươi có cái ấy" sao lại đổ cho ta, và ngươi vì mê chấp tình thức phân biệt đầy ấp trong đầu nên nghĩ cái ấy là thô tục cấm kỵ, thật ra khắp thể ngươi chỗ nào cũng là " mật xứ" tức đạo lý căn bổn của Thiền cả, có gì xa lạ đâu mà phải hỏi tìm!"

V. U mặc tiếu ngạo:
Cuối cùng nói tới tinh thần Thiền Tông mà không bàn đến tính u mặc, trào lộng là một thiếu sót lớn. Chính phong cách đối đáp tếu mà đượm nét thâm thúy ở các công án Thiền đã giúp Thiền Tông vừa bí áo mà lại tiếu ngạo hồn nhiên như một lão ngoan đồng. Để gọi là phụ diễn tấu hài, chúng tôi xin trưng dẫn một số công án tếu lượm lặt từ bộ Thiền thư vĩ đại Cảnh Đức Truyền Đăng Lục.
- Tăng hỏi: "Thế nào là đạo?" Sư đáp: "Núi đẹp quá". Tăng hỏi: "Học nhân nầy hỏi đạo sao sư đáp núi đẹp?" Sư đáp: "Ngươi chỉ biết có núi đẹp chớ có bao giờ đạt đạo mà nói đạo!".
- Lý Bột hỏi: "Đại tạng giáo chỉ là cái gì?" Sư đưa nắm đấm lên khải thị hỏi: "Hiểu không?" Lý đáp: "Không hiểu" Sư quở: "Gã học troõ khờ nầy, cái nắm đấm mà cũng không biết!".
- Tăng hỏi: "Khi cha mẹ chưa sanh ra ta thì lỗ mũi ở đâu?" Thiền sư Nam Tuyền hỏi vặn lại: "Vậy chớ khi cha mẹ đã sanh ra mình rồi thì lỗ mũi ở đâu?"
- Tăng hỏi: "Thế nào là Tổ". Thiền sư Khư Minh đáp: "Mặt đen xì, mắt trắng dã".
- Tăng hỏi: "Sáng sớm khi gà chưa gáy thì thế nào?" Thiền sư Đại Đồng đáp: "Thì không nghe tiếng gáy chớ sao nữa".
- Tăng hỏi: "Khi Phật Nhiên Đăng chưa xuất hiện thì thế nào?" Thiền sư Chí Nguyên đáp: "Thì chẳng có ánh sáng chớ sao nữa". Vì tên Nhiên Đăng theo nghĩa thường của chữ Nho là "đèn cháy sáng").
- Tăng hỏi: "Tổ Phật chưa ra đời thì thế nào?" Hòa thượng Vân Trái đáp "Thì chưa biết hình tượng".
- Tăng hỏi: "Thế nào là Sư Tử?" Thiền sư Bổn Tịch đáp: "Các con thú khác không dám lại gần" (Sư Tử mà ông tăng hỏi đây là chỉ đức Phật chứ không phải con sư tử thường, sư thấy hỏi vu vơ nên đáp trớ).
- Tăng hỏi: "Thế nào là Tổ Sư Tây Lai ý" Thiền sư Long Nha đáp "Chừng nào con rùa đá kia biết nói thì ta sẽ nói cho người nghe". Tăng nói: "Rùa đá đen biết nói rồi kìa". Sư nói: ''Vậy à! ... Thế nó nói với ngươi cái gì?".
- Tăng hỏi: "Thế nào là chỗ sâu thẳm?" Thiền sư Thục Long trả lời: "Đó là chỗ thằng lùn đi qua khe sâu.
- Tăng hỏi: "Tổ Sư Đại Ma chín năm nhìn vách là ý nghĩa gì'?" Thiền sư Song Tuyền đáp: "Đó là do bịnh mất ngủ nên không ngủ được".( phải thức ngồi nhìn vách mãi)
- Tăng hỏi: "Một thương một ngựa xông vào quân địch thì thế nào? "Hòa thượng Quảng Tuế đáp: "Thì rơi đầu chớ còn gì nữa".
- Tăng hỏi: "Ở một mình trên chót núi cheo leo thì như thế nào? "Thiền sư Chiêu Hóa đáp: "Tăng đường bảy gian trống rỗng sao ngươi không ở lại lên chót núi cheo leo mà ở để làm gì"
- Tăng hỏi: "Chỉ dung thân trong một trượng vuông thì thế nào? ''Thiền sư Cư Sơn đáp: "A, cái đó còn tùy thân hình ngươi ốm hay mập''.
- Tăng hỏi: ''Khi trời đất còn hổn độn chưa phân biệt thì thế nào? "Thiền sư Hoằng Thông đáp: "Thì là lộn xộn chớ gì nữa"
- Tăng hỏi: "Kiếm báu chưa mài thì thế nào? "Hòa thượng Thủy Nham đáp: "Xài không được". Tăng lại hỏi: "Sau khi mài xong thì thế nào?" Sư đáp: "Đụng vào không được (vì sẽ đứt tay).
- Tăng hỏi: "Thế nào là Phật? "Mãng Thiền sư đáp: "Là người trước ngực để chữ Vạn". Tăng lại hỏi: "Thế nào là Tổ?" Sư đáp: "Không cần đi Tây phương, chỉ nhìn hình vẽ trên vách".
Thiền sư Đại Dung cùng một cụ già hẹn gặp chỗ nọ nhưng rồi vì có chút việc sư không tới như hẹn. Sau đó cụ già trách "Phật không nói hai lời". Sư cười ruồi đáp: "Pháp chẳng duy một nẻo"..
- Tăng hỏi: "Thế nào là lời dạy xưa?" Thiền sư Báo Từ đáp: "Tôi nghe như vầy"(Tức Như thị ngã văn).
- Tăng hỏi: "Người xưa chặt tay để nhằm việc gì'?" Thiền sư Truyền Tâm đáp: "A, riêng ta thì không chịu chặt tay đâu"
Thiền trải qua nhiều triều ở Trung Quốc, Việt , Triều Tiên. Nhật Bổn, trong đó có biết bao thiền sư kiệt xuất đã vận dụng tâm cơ suốt cả ngàn năm để xây dựng nên một thế giới tinh thần. Thế giới nầy bám rễ từ một nền văn hóa lâu đời của ấận Độ Trung Hoa, rồi vươn cành sang một số nước ở Đông Nam Á cũng có nền văn hóa lâu đời đa dạng như Việt Nam, Nhật Bổn và Triều Tiên rồi Tây phương nên nó tẩm nhuận sung dật muôn màu, nghìn vẻ, hun đúc thần thái bác đại tinh thâm khiến mọi người tìm thấy nơi đó trí tuệ của tôn giáo và nhân sinh, một trí tuệ tràn đầy phong phạm của văn hóa Đông phương tinh trí, mị lực, và thể cách Âu Mỹ sung dật, thật tế, hiện tiền, khoa học. Đối với một thế giới Thiền bao la như vậy thì chỉ mấy trang biên soạn nầy mà muốn miêu tả tinh thần của nó thì đúng là một chuyện: "Nhật ngọ đả tam canh" thôi? Ngoài ra khi đã dùng ngôn ngữ, mà lại là ngôn ngữ của người đời nay để nói về Thiền qua mọi thời đại thì chỉ là hành động mò trăng đáy nước của anh mù.
Và cuối cùng xin dẫn một câu nói mà các Thiền sư hay khải thị để đúc kết bài viết nầy.
Như người uống nước nóng lạnh tự biết.
Lĩnh hội chỉ ý, chính mình cảm thôi.
(Hậu học Lý Việt Dũng biên soạn).

LÝ VIỆT DŨNG
(nguồn: TCSH số 154 - 12 - 2001)

-----------------------------------------------
(1) Ni vấn: "Như hà thị mật mật ý? Sư dĩ thủ kháp tha nhất hạ. Ni viết: "Hòa thượng do hữu GIÁ CÁ TẠI?" Sư viết: "Khước thị nĩ hữu GIÁ CÁ TẠI!” (Ngũ Đăng Hội Nguyên quyển 4)
Chính nguyên văn cũng né chỉ viết là chung chung "Kháp tha nhất hạ" tức "bấu cô ta một cái?" nhưng chúng ta phải thấy được ẩn ý của câu chuyện và mạch văn mà dịch can đảm "bấu chỗ ấy của cô ta" vì có dịch như vậy mới lột tả trọn vẹn từ "mật ý" của đoạn công án độc đáo nầy. Thật ra phải chú thích dài dòng là chúng ta cũng đã " Hữu giá cá tại'' rồi].
Ôi lối ngộ Thiền triệt để rốt ráo nầy phỏng có mấy ai chấp nhận?


20 thg 7, 2008

GiámmụcAdran

Giám mục ADRAN -

Đức Cha Pigneaux de Behaine

Hội Truyền giáo Ba Lê

Tài Liệu: http://belleindochine.free.fr/PigneauxDeBehaine.htm

(Nguyễn thị Hảo dịch)

Gửi bài này cho bạn bè 12 July, 2008

LTS: Có một câu hỏi đặt ra cho lịch sử Việt Nam vào thế kỷ 18, 19 là: "Đạo Thiên Chúa đem Pháp vào Việt Nam, hay Pháp đem đạo Thiên Chúa vào Việt Nam?". Ai có nghiên cứu lịch sử Giáo hội La Mã đều biết rằng những nhà truyền giáo đã đi các nơi trên thế giới từ mấy trăm năm trước để truyền đạo và chinh phục thế giới theo Thánh lệnh Romanus Pontifax của Giáo Hoàng Nicolas V (1447-1455). Họ đã đến Việt Nam từ thế kỷ 16. Do sự phát triển về kỷ nghệ ở Âu châu, những nhà truyền giáo vay mượn văn minh đó để lòe mắt những người ít học và đã thu phục một số tín đồ. Cả mấy thế kỷ trôi qua, không hề có sự "kỳ thị nào của các vua quan Việt Nam đối với đạo này. Quân đội Pháp cũng chưa hề tràn vào Việt Nam trước thế kỷ 19. Phải có một nguyên nhân cho hai chủ thể ngoại lai này trở thành "vấn đề sinh tử" đối với dân tộc Việt Nam, xâu xé dân ta cho đến ngày nay. Dòng lịch sử cũng bị phân đôi. Một bên, chép sử theo phía dân tộc, quyết "đặt vấn đề" đối với các nhân tố gây thương tích cho quốc gia mình, còn một bên chép sử theo phía ngoại nhân, quyết biện hộ để thoát ra khỏi mặc cảm theo giặc, và đồng thời lên án đối phương về những vấn đề tiêu cực khác để khỏa lấp vấn đề. Cuộc tranh luận của hai bên vẫn kéo dài qua đến thế kỷ 21 ngày nay. Dần dà, phía dân tộc có thêm nhiều chứng cớ lịch sử, và những "kẻ theo giặc", nếu còn một chút tự trọng phải biết gục đầu dừng lại băng thái độ ăn năn. Bài viết sau đây dịch từ trang nhà của một nhóm truyền giáo người Pháp http://belleindochine.free.fr/, đã khẳng định trả lời cho câu hỏi đặt ra bên trên: Chính Giám mục Pigneaux là người đầu tiên đem quân đội Pháp đến Việt Nam theo sự cầu viện của Nguyễn Ánh, để giành lại ngôi vua từ trong tay nhà Tây Sơn (SH.)


Giám mục ADRAN - Đức Cha Pigneaux de Behaine

Bản dịch từ trang nhà của Hội Truyền Giáo Ba Lê: http://belleindochine.free.fr/PigneauxDeBehaine.htm

Pierre PIGNEAUX (với chữ X) sanh ngày 2 /11/1741 tại thành Origny-en-Thiérache, tỉnh Aisne. Ông là trưởng nam trong một gia đình có 12 người con. Gia đình ông khá giả, thân phụ làm chủ một tiệm thuộc da khá phát đạt. Ông vào chủng viện Hội Truyền giáo Ba Lê năm 1765 và đi xứ Nam kỳ ngày 9 /9 năm đó, chống lại ý muốn của cha ông. Ông viết rằng: «Tôi phải đi đến một số nước mà thánh Phanxicô Xavie đã từng đến.» Tình cờ lịch sử đã khiến ông đồng hành với ông Pierre Poivre. Sau khi xuyên qua đảo Bourbon (la Réunion), Pondichy, Malacca, và Macao, ông dừng lại ở đảo Hòn Đất, gần Hà Tiên (1767).

Nhưng ông bị bắt ngày 8/01/1768, vì tội chứa chấp một vị hoàng tử Xiêm, vốn là kẻ thù của Mạc Thiên Tứ, thống đốc vùng Hà tiên. Ông bị giam gần 2 tháng, trong năm 1768. Ông phải mang một cái gông nặng 45 kg, dài 1,77m… Để trốn cuộc bách hại ông đã ra đi cùng với 43 chủng sinh, đến Malacca, và sau đó đến Pondichéry (Ấn Độ). Ông dừng chân tại Virampatnam và xây cất một chủng viện. Năm 1771, ông được bổ nhiệm làm Giám mục lúc 30 tuổi, và được tấn phong ngày 24/02/1774. Ông lợi dụng thời gian này để soạn quyển tự điển "Ngữ Vựng Việt-La".

Tự điển Việt La soạn năm 1775 ở Pondichéry (tài liệu của Hội Truyền Giáo Paris).

Ông quay trở lại Nam Kỳ, đáp tàu ngày 12/03/1775 và trở về cư trú tại Hà Tiên. Theo sự ước lượng lúc đó, xứ truyền giáo có khoảng 60.000 hoặc 100.000 người công giáo. Vào năm 1779 có 9 linh mục Hội thừa Sai, 1 linh mục người Ý, một tu sĩ dòng Phanxicô Manilla, và những linh mục người bản xứ.

Nội chiến tại An nam

Vào lúc đó, xứ An Nam đang có nội chiến, xâu xé nhau giữa nhà Nguyễn đương vị và quân khởi nghĩa Tây Sơn («những người miền núi phía Tây»). Cuộc nổi dậy xuất phát từ Qui-Nhơn, phía nam xứ Huế. Vào cuối năm 1775, quân Tây Sơn bắt giữ toàn thể hoàng gia ở vùng Long-Xuyên, và xử tử nhà Vua và đứa con của nhà vua. Là người đại diện duy nhứt của nhà Nguyễn, chàng trẻ tuổi Nguyễn Ánh, Hoàng đế Gia Long tương lai, lúc đó 16 tuổi, trốn thoát được nhờ sự giúp đỡ của Giám Mục. Người công giáo nhìn thấy trong đứa bé nầy một vi tân «Mai-Sen được cứu khỏi nước».

Tạm thời, nhà Tây Sơn cho rằng cuộc chinh phục Nam kỳ đã thành công, nên xuất quân ra Qui Nhơn để chuẩn bị đánh Bắc Hà. Nguyễn Ánh qui tụ phe của ông và nhóm Trung Hoa của quan đầu tỉnh Hà Tiên, và cố tái chiếm vùng đất đồng bằng sông Cửu Long. Sài gòn được chiếm lại vào năm 1776. Ở phía Bắc, cùng năm đó, Thăng Long rơi vào tay nhà Tây Sơn, và toàn vùng bị rơi vào nạn đói kinh khủng.

Vào giữa năm 1778, hải tặc Kampuchia xâm chiếm khu đạo ở Hà Tiên, càn giết những người công giáo, gây ra nhiều tử vong cho những nhà truyền giáo. Pigneaux và những chủng sinh trốn ở Tân- triệu, gần Sài gòn.

Nguyễn Ánh ở gần đó nên thường thăm viếng Pigneaux. Từ lúc đó, nảy sinh ra một tình bạn khắng khít giữa hoàng thân và giám mục.

Yên ổn được 3 năm, quân Tây Sơn trở lại miền Nam vào năm 1782, đóng quân trước cửa thành Sài Gòn và chiếm được thành. Hơn 10,000 (mười ngàn) người Trung Hoa ở Chợ Lớn bị sát hại bởi phe chiến thắng.

Pigneaux bắt buộc phải bỏ trốn cùng với các chủng sinh và một số người công giáo, trước tiên là đến Kampuchia, rồi đến những hòn đảo thuộc vịnh Xiêm La. Trên đảo Poulo Vai, Giám mục viết ra quyển giáo lý bằng tiếng Nam Kỳ, trong khi chờ đợi hết mùa mưa. Vào tháng giêng năm 1784, Giám mục gặp Nguyễn Ánh, cũng trốn tránh như ông và đang ở trong bước đường cùng. Giám mục chia sẻ với Nguyễn Ánh và quân lính đang đói khát những lương thực cuối cùng, nhờ vậy cứu được họ. Giám mục cùng với họ đi đến đảo Poulo Condore. Quân Tây Sơn rượt đuổi cả Giám Mục. Nguyễn Ánh chỉ còn 1000 quân. Họ đành trốn trở lại Phú Quốc.

Tượng Giám Mục Pigneaux và hoàng tử Cảnh, trưóc nhà thờ chánh toà trong thời pháp thuộc.

Làm sao quật lại thế cờ? Cầu viện với người Xiêm? Làm như vậy sẽ có nguy cơ mất các tỉnh. Dù vậy họ cũng đành phải cầu viện. Kết quả là một thất bại nặng nề. Nguyễn Ánh xác tín rằng vì quân Tây Sơn quá hùng mạnh, nên không một quốc gia Châu Á nào có thể đơn phương đẩy lùi họ được. Người Bồ đào nha, người Hoà Lan, và người Anh, đồng tình sẵn sàng tiếp viện.

Vì không muốn sự nhập cuộc của người Tin lành với nước Anh, hoặc người đạo Calvin với người Hoà Lan, cũng như không muốn những khó khăn trước kia với người Bồ Đào Nha tái xuất hiện, Pigneaux đề nghị với Nguyễn Ánh cầu viện nước Pháp. Nguyễn Ánh cuối cùng chấp nhận đề nghị nầy. Giám mục được cử đi Versailles. Giám mục rời đảo Poulo-Panjang, cùng với con của Nguyễn Ánh là Hoàng Tử Cảnh, 5 tuổi, và người bạn thâm giao Nam Kỳ, linh mục Paul Nghi, và 2 quan lại, cùng với 40 người lính. Họ đến Pondichéry vào năm 1785. Nhưng tại đây, trong khi những thương gia tán thành ý kiến của giám mục, thì chính quyền địa phương và vị chỉ huy căn cứ Hải quân lại cho rằng kế hoạch nầy sẽ không mang lại lợi ích nào. Giám mục bắt đầu đặt nghi vấn về kế hoạch của ông, ông gửi thư cho Hội Truyền giáo Ba Lê để báo tin ông sẽ quay trở lại Nam kỳ. Cuối cùng mọi chuyện được sắp xếp ổn thoả, và tàu có thể rời bến đi Pháp. Đến Lorient ngày 5 tháng 2 năm 1787.

Có lẽ do sự đề bạt của hầu tước De Castries, bộ trưởng Hải Quân, tên của Giám mục được thêm danh hiệu “de Béhaine”, để ông được dễ dàng vào cung . Dẫu sao ông cũng đã được yết kiến vua Louis XVI ngày 6 /05.

Pigneaux đã chuẩn bị một bản trường tình long trọng và được hưởng ứng tốt đẹp. Ông trình bày về thương mại, về sự hấp dẫn của thành phố Tourane (Đà Nẵng). Ông cũng đề cập đến chiến lược hành quân, đến những đối thủ và sự cần thiết phải đối trọng thế đứng của người Anh ở Ân Độ. Ông đưa ra những con số chính xác về chiến thuật sinh tồn. Một nghìn năm trẳm (1500) người đủ để chiếm Qui Nhơn.

Triều đình đánh giá cao phẩm chất và sự chính xác của bài tường trình. Montmorin và Castries, Tổng thư ký các Bộ Ngoại giao và Bộ Hải Quân, đều tán thành đề án của Giám Mục và hứa sẽ giải quyết thuận lợi cho Giám mục. Trong khi chờ đợi, nét uy nghi của Giám mục và tính cách ngoại lai của hoàng tử được triều đình yêu thích. Hoàng tử Cảnh chơi đùa với con của vua Louis XVI.

Hoàng tử Cảnh

Một cuộc viễn chinh được quyết định. Nước Pháp hứa sẽ cấp 4 chiến hạm và 1650 quân.

Một hiệp ước được soạn thảo rồi ký kết giữa Vua nước Pháp và Vua nước Nam Kỳ tại Versailles ngày 28 /11/ 1787. Người ký là Bá Tước Montmorin, Bô trưởng của Vua Louis XVI, và ông Pigneaux, người đại diện cho hoàng tử Cảnh.

Với hiệp ước nầy, nước Pháp hứa sẽ giúp Nguyễn Ánh đoạt lại ngai vàng, bù lại nước Pháp được quyền xử dụng hải cảng Tourane, đảo Poulo-Condor, và độc quyền kinh doanh với vương quốc, như đã thoả thuận trước đó với Nguyễn Ánh.

Tuy nhiên, chỉ 4 ngày sau khi hiệp ước được ký kết, những chỉ thị mật được gửi đến Pondichéry qua trung gian của Montmorin. Những chỉ thị nầy nhằm tham khảo ý kiến địa phương về cách thực thi hiệp ước.

Giám mục trở lại Pondichéry một tháng sau khi ký hiệp ước, cùng với người học trò hoàng gia và 8 nhà truyền giáo. Tất cả đều tin tưởng vào sự thi hành hiệp ước.

Tới Pondichéry, Bá tước de Conway, người nhận chỉ thị mật, đã thi hành chỉ thị bằng cách tra vấn Pigneaux về lợi ích của kế hoạch của ông. Cuối cùng cả hai bên trao đổi lý lẽ qua thư từ, và quyết định báo cáo trực tiếp về Versailles. Cuối cùng, một cuộc họp mật được tổ chức ngày 4/10/1788 và Louis XVI quyết định ngưng hẳn cuộc viễn chinh. Ngoài ra, cũng có quyết định rút quân ra khỏi Ấn độ.

Giám mục không từ bỏ những cam kết với Nguyễn Ánh. Nhờ sự ủng hộ của gia đình ông và của những chủ đóng tàu của Ile de France (Maurice), đảo Bourbon (La Réunion) và Pondichéry, Giám mục mua nhiều quân cụ, súng đạn, đại bác thần công, đạn dược và thuê nhiều tàu chiến, và trang bị sẵn để gửi đến cho Nguyễn Ánh. Giám mục cũng tin vào sự giúp đỡ của 12 sĩ quan Hải Quân Pháp, từng ngưỡng mộ công trình ái quốc của Giám Mục, và bất chấp những cam kết của mình. Như vậy, 359 thủy thủ sẵn sàng phục vụ cho xứ Nam Kỳ.

Ngày 24 / 07/ 1789, Giám mục lên bờ tại vịnh Cây Dừa (mũi Saint Jacques) từ chiến hạm “La Méduse” (sẽ nổi danh khi nó bị đắm ngoài khơi bờ biển của đảo Mauritanie vào năm 1816).

Nguyễn Ánh rất vui mừng trước sự thành công của cuộc viễn chinh, cám ơn Vua nước Pháp, nhưng tiếc rẻ thái độ của ông Conway mà ông gán cho trách nhiệm trong việc Pháp từ chối giúp đỡ.

Tức khắc Giám mục và các sĩ quan bắt tay vào việc. Pigneaux muốn vỗ về dân chúng để giành được sự ủng hộ của họ, đồng thời ông tổ chức lại Hải Quân và quân đội của Nguyễn Ánh. Để thực hiện ý định nầy ông xây dựng một quân đội nhỏ hữu hiệu, theo kiểu Âu châu.

Ông Victor OLIVIER de PUYMANEL và ông Théodore LEBRUN xây dựng 2 thành lũy, một ở Sài Gòn và một ở Diên Khánh, gần Nha Trang.

Ông PUYMANEL cất một trường chiến tranh. Ông Laurent BARISY và ông Godefroy de FORSANZ làm tư lênh các tàu chiến và chuyên lo huấn luyện sĩ quan. Ông DAYOT, CHAIGNEAU và ông Philippe VANNIER lo về hải quân.

Ngôi nhà đơn sơ của Giám mục Pigneaux de Béhaine, ngày nay được dựng lại trong khuôn viên toà tổng Giám mục Sài gòn. Thánh lễ mỗi ngày vào 5giờ 30 sáng.

Không phải tất cả mọi người đều vui mừng tiếp nhận những người Ấu châu “dã man”. Trước sự thù hằn của những quan lại, hàng chục người Pháp nãn lòng đã rút lui. Quần chúng, tức giận vì bị bắt phải lao tác cực nhọc để xây thành lũy đã nổi dậy; nhà vua vì thiếu kinh nghiệm và không biết dằn cơn nóng giận đã làm cho nhiều người phẫn nộ. Nhờ Giám mục Pigneaux, mọi chuyện đã được giải quyết nhanh chóng; những người Pháp đã rút lui chấp nhận quay trở lại; các sĩ quan được che chở và tìm lại được danh dự phải có; từ đó nhà vua để tâm nghe theo những ý kiến khôn ngoan của vị cố vấn của ông.

Nhà vua cấp cho Giám mục một đội binh bảo vệ gồm 200 quân, vừa để bảo vệ bản thân Giám muc, vừa để phù hợp với chức vị của Giám mục. Nhà vua muốn Giám mục cư ngụ gần cung điện của ông, và thường tiếp kiến Giám mục, sẵn sàng nghe theo ý kiến của Giám mục, kể cả những lời quở trách của Giám mục. Pigneaux de Béhaine đã được nhà vua hứa rằng sẽ không bao giờ hành quyết người nào mà không báo trước cho Giám mục biết; và nếu Giám mục, sau khi đã cứu xét kỹ hồ sơ, xin nhà vua miễn xá cho tội phạm, thì nhà vua bắt buộc phải chấp thuận.. Nhà vua luôn luôn trung thành với lời hứa nầy. Nhờ đó ông tránh được những lỗi lầm do tánh nóng nãy của ông gây ra.

Vai trò chính trị của Giám mục dù quan trọng đến đâu cũng không làm cho ông xao lãng nhiệm vụ của ông là Giám quản Tông Toà. Ông cải tổ công tác truyền giáo, gọi các chủng sinh từ Chantaboun về. Dưới sự điều khiển của ông có 14 linh mục của Hội Truyền giáo, kể cả 8 linh mục mà ông đã mang theo, 3 tu sĩ dòng Phan xi cô, và 9 linh mục bản xứ. ông cắt đặt công tác mục vụ cho mỗi người. Mặt khác, Pigneaux cũng hoạt động cho những nhà truyền giáo và những người công giáo, bằng cách viết ra một quyển tự điển Nam kỳ- Latin rất có giá trị mà Giám mục Taberd, một trong những người kế vị ông, đã cho ấn hành vào năm 1838. Cũng nhờ ông mà trái măng cụt được nhập cảng vào xứ Nam kỳ.

Về mặt quân sự, nhà vua đã lấy lại được lãnh thổ miền nam, trước khi Giám mục trở về nước. Trong số 3 anh em Tây Sơn, chỉ còn 2 người nhưng họ xung khắc nhau. Một người đã qua đời vào tháng 9 năm 1792, và không bao lâu sau, người kia cũng mất. Cuối năm 1792, chiến thắng ở biển Qui Nhơn làm cho dân chúng phấn khởi. Dẫu vậy, nhà vua cũng từ chối tiến quân khiến cho người Pháp thất vọng định rút quân một lần nữa.

Tuy nhiên vào năm 1799, nhà vua qưyết định tấn công cả 2 mặt: đánh bộ và đánh thủy vào Qui Nhơn là thành trì chính của Tây Sơn vốn đã từng chống lại tất cả những cuộc tấn công. Giám mục chứng kiến cuộc tấn công nhưng ông lâm phải bệnh (bệnh lỵ amíp) đau đớn kéo dài 2 tháng, mặc dù ông được nhà vua và bác sĩ hết sức tận tâm chạy chữa.

Pigeaux de Béhaine qua đời ngày 9 tháng 10 năm 1799. Cái chết của ông được giữ kín cho đến khi Qui Nhơn bị thất thủ ngày 2 tháng 11. Đám tang được cử hành tại Sài Gòn theo nghi thức hoàng gia.

Bắt đầu vào lúc 2 giờ sáng, đoàn kiệu kéo dài hơn 7 giờ, gồm trên 12.000 người, 120 con voi và trên 100 lồng đèn. Bốn mươi ngàn (40.000) người đi theo sau đoàn kiệu. Vua Nguyễn Ánh chủ toạ đám tang và đọc bài điếu văn ca ngợi Giám Muc. Nhà vua dựng cho ông Pigneaux một ngôi mộ sang trọng và cắt đặt 50 quân canh mộ, với chỉ thị canh gác vĩnh viễn.

Giám mục Pigneaux de Béhaine, sưu tầm của Hội Thừa Sai Ba Lê.

Thế là Giám mục thành Adran qua đời 2 năm trước khi Huế (1801) và Thăng Long (1802) bị thất thủ. Anh em Tây Sơn hoàn toàn bị đánh tan. Nguyễn Ánh có thể tự xưng hoàng đế ngày 31 tháng 5 trong cùng năm đó. Ông lấy hiệu là Gia Long (thịnh vượng lâu dài), và cũng là sự kết hợp của Gia định – tên của Sài Gòn – và Thăng Long (tên cũ của Hà Nội). Huế trở thành kinh đô mới của Việt Nam thống nhất. Nguyễn Ánh không những đã khôi phục những vùng đất của tổ tiên nhà Nguyễn mà còn thêm vào phần đất ngoài Bắc, do đó thống nhất đất nước từ vịnh Bắc Việt đến vịnh Thái Lan.

Nguyễn Ánh băng hà năm 1820, Minh Mạng thế ngôi. Những viên sĩ quan Pháp, bị Minh Mạng thải hồi đã chọn lưạ rút quân.

Công giáo lại bị bách hại vào năm 1831.

Cuộc sống bị dày vò của Giám mục

Những năm cuối đời, Giám mục sống trong nghi ngờ và buồn bã.

Trước hết, Giám mục chứng kiến cái chết của những người bạn hữu, thân thuôc, tại Nam Kỳ vì bệnh, hoặc tại Pháp vì cuộc Cách Mạng Pháp. Hầu tước Montmorin, người ký hiệp ước, bị đâm chết trong cuộc tàn sát năm 1792.

Sống bên cạnh vua Nguyễn Ánh đã dày vò Giám mục vô cùng. Những chỉ thị của Bộ Truyền Giáo cấm các vị truyền giáo không được xen vào chính trị của những nhà vua. Thực vậy, Giám mục bị các nhà truyền giáo chỉ trích, kể cả trong hàng ngũ của Hội Thừa Sai Ba Lê (thí dụ Giám mục Pothier ở Se Tchouen). Những tu sĩ dòng Phan xi cô tại Cần Thơ không còn nhìn nhận quyền hành của Giám mục. Giám mục bị anh em của ông ở Viễn Đông chống đối, nhưng ông biết ông được Roma ủng hộ.

Về phía nhà vua, độc tài, nóng nảy, hay thay đổi ý kiến và hay làm sai trái. Pigneaux ngỡ ngàng trước sự chậm chạp và do dự của nhà vua. Năm 1792, Giám mục sẵn sàng chấp nhận ra đi, thất vọng. Ô biết mình là một biểu tượng, chỉ cần có sự hiện diện của ông là đủ để quân đội phấn khởi. Nhưng Giám mục đã chọn lựa ẩn mình phía sau.

Mối hy vọng vào việc cải đạo cho hoàng tử Cảnh càng lúc càng tiêu dần. Nếu Giám mục đã nuôi hy vọng như các vị tông đồ vĩ đại đưa cả xứ Nam kỳ trở lại đạo, tin vào một Thiên Chúa độc nhất, thì cũng chỉ là một mơ tưởng. Ông sẽ không bao giờ trở thành một Constantin của Âu châu chúng ta. Gần gũi với Giám mục, hoàng tử Cảnh đã thấm nhuần luân lý công giáo. Khi hoàng tử Cảnh trở lại Nam kỳ, ông đã từ chối không chịu lạy bàn thờ tổ tiên, làm chấn động gia đình của ông. Nhưng một cuộc tranh chấp ảnh hưởng trên hoàng tử do các quan lại, và hy vọng trở lại đạo bị tan vỡ. Năm 1797, hoàng tử Cảnh lấy 3 vợ lẽ! Lâm bệnh, hoàng tử qua đời vào năm 1801, lúc ông được 22 tuổi.

Nghĩa địa Huế, ngôi mộ của Godefroy de Forsanz (1770 -1811)

Pigneaux cũng đau khổ vì thái độ của sĩ quan Pháp. Dù với uy tín của Giám mục, đa số các quân lính chỉ mơ ước tài sản và danh vọng. Không được trả lương hậu, bằng hiện vật hoặc bằng tiền địa phương, các sĩ quan phải chạy chọt thêm để kiếm sống. Họ quên bổn phận thiêng liêng của họ, chỉ trừ ông de Chaigneau. Puymanel có một cuộc sống “khả ố” và sống chung với một phụ nữ lăng loàn.

Về mặt tôn giáo kết quả cũng không tốt. Công cuộc truyền giáo cho người “rừng rú” bị thất bại. Năm 1797, con số người công giáo đã rút xuống còn 25000. Nhà vua tuyên bố trong năm đó rằng chỉ có “khinh dễ và căm hận đối với đạo công giáo”.

Giám mục xin Roma được thích nghi một số nghi thức để dễ phổ biến đức tin :

- phụng vụ bằng tiếng Trung Hoa thay vì tiếng La Tinh,

- tu phục (áo dòng) khác, vì nó gây chế diễu, và kỳ cục.

Nhưng nhứt là sự cấm đoán thờ cúng tổ tiên, một tục lệ trong cả nước, mà Giám mục muốn vãn hồi. Ông đề nghị thích nghi tục lệ nầy với đạo công giáo bằng cách biến nó thành “kính nhớ tổ tiên”. Dù đã trao đổi nhiều thư từ về vấn đề nầy, Roma vẫn từ chối. Giám mục tuyên bố rằng “Chúng ta câu nệ quá tỉ mỉ, chỉ làm hại cho đạo công giáo” thôi. Sự thờ kính ông bà chỉ được Roma chấp nhận vào năm 1932, và chính thức cho phép vào năm 1964.

Chính trong bối cảnh khó khăn nầy mà Giám mục Tổng quản Tông Toà đã qua đời sau hơn 29 năm làm mục vụ.

Vào năm 1859 khi cấm cờ ở Nam Kỳ, Pháp tìm lại được ngôi mộ của Giám Mục và đã trùng tu ngôi mộ nầy. Ngày 10 tháng 3 năm 1902, theo nguyện vọng của Paul Doumer, tượng đài của Giám mục Adran được khánh thành trên công viên Nhà Thờ Chánh Toà Sài Gòn.

Ngôi nhà gia đình của Giám mục ở Origny-en-Thiérache trở thành viện bảo tàng ngày 1 tháng 6 năm 1914.

Tài liệu tham khảo :

- Giấy tờ của Hội Truyền giáo Ba Lê,

-“Cuộc đời sóng gió của Giám mục Adran”, de Taboulet, 1940

- Pigneaux de Béhaine, Alexis Faure, 1891,

và đăc biệt với sự giúp đỡ quý báu của Francois Xavier Landrin !

Trang Sách Nước Ngoài