29 thg 5, 2008

26 thg 5, 2008

NàngtiênTimAline




Gửi bài này cho bạn bè 24 tháng 5, 2008

<< to English version >>

Tình Yêu Không Biên Giới!

Một Chuyện Thần Tiên của Thế Kỷ 21

Hay là một câu chuyện cảm động của một nghệ sĩ trẻ người Thụy Sĩ. Người nghệ sĩ này đã đem lại tình thuơng và hy vọng cho những trẻ em sống lang thang ngoài đường phố và những người tàn phế ở Việt Nam.

Hơn ba mươi năm sau khi chiến tranh chấm dứt, Việt Namđã dần dần tiến sang nền kinh tế tự do. Nhiều người đã trở nên giầu có, rất giầu. Nhưng vẫn còn nhiều cảnh thương tâm ...

1. Những trẻ em ngoài đường phố.

Các trẻ em mồ côi hay bị cha mẹ bỏ rơi, hầu hết những trẻ em này mù chữ, bắt buộc phải lang thang đầu đường xó chợ. Có tới từ 20,000 tới 40,000 em như thế, từ 4 tuổi trở lên, sống ở ngoài đường phố Sàigon.

2. Những người tàn phế

Những người tàn phế này có thể do bẩm sinh ngay từ lúc chào đời, phần lớn là do ảnh hưởng của chất độc Da Cam trong thời chiến tranh, hoặc do tai nạn khi làm việc.

Không có một tổ chức nào để lo cho những người bị tàn phế ở Việt Nam. Những người tàn phế này đã trở thành gánh nặng cho gia đình họ, nên họ đã bị chính gia đình họ bỏ rơi. Nhiều người đã tự tử để giải thoát.

Chuyến du lịch định mệnh

Năm 1992, Aline Rebeaud lúc đó mới 20 tuổi và là sinh viên nghệ thuật ơ Thụy Sĩ, cô đi du lịch hết Âu Châu và Á Châu rồi tới Việt Nam.

Một buổi tối, cô gặp một em bé 10 tuổi đang hấp hối vì đói nằm bên cạng một đống rác ở đường phố Sàigòn. Cảnh tượng này khiến cho cô vô cùng xức động và nghĩ đến nhiều trẻ em đang sống trong tình cảnh tuyệt vọng như vậy.

Thay vì quay lưng đi để còn lo tiếp tục đời sống bình thường như hầu hết mọi người chúng ta, cô săn sóc em bé sắp chết đói này, rồi lặn lội cả mấy tháng trời đi nhiều nơi để tìm hiểu về tình cảnh của những em bé vô vọng

Cuối cùng, nghe theo tiếng gọi của con tim, với tình thương bao la như trời biển, cô Aline đã quyết định ở lại Viet Nam để săn sóc cho các trẻ em bị bỏ rơi này.

Cô dùng tiền bán các họa phẩm của cô để mua một căn nhà hai phòng ngủ ở trong một khu phố nghèo nhất ở Sàigòn, và bắt đầu gom các trẻ mồ côi, những em mà cô gặp lang thang không nơi nương tựa, và những người bị tàn phế nặng nề.

Cô thành lập một gia đình gồm cả người lớn và các trẻ em. Dựa trên tình liên đới thật sư cho nên gia đình này họ sống với nhau rất thuận thảo.

Người Viêt Nam rất thương quý cô Aline và gọi cô là cô “Tim” mà tiếng Anh là “Heart”. Các trẻ em coi cô như người Me của các em. Các em gọi cô “Mẹ Tim” .

Lúc đầu, vì không nhận được tiền tài trợ, Mẹ Tim tự làm tất cả mọi công việc, bao gồm cả việc nấu ăn, săn sóc cho những người tàn phế, cho các em bé ăn uống giống như một người mẹ, và tìm những nguồn tài chính đê nuôi nấng cái gia đình này ngày càng trở nên nhiều miệng ăn hơn.

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề giáo dục và vấn đề hội nhập vào xã hội, cô Tim còn giữ vai trò cô của một cô giáo trong khi cô con đang phải tự học nói và viết tiếng Việt.

Cô Tim cũng dạy các em những quy luật căn bản để sống chung với nhau bằng cách dạy cho các em phải biết lắng nghe lời cô dạy và tôn trọng những cái gì thuộc về người khác, phải tham gia vào việc làm chung của gia đình, phải biết chia sẻ với nhau, đối xử với nhau bằng tình liên đới, bằng những nụ cười và tha thứ.

Năm 1996. để tìm được nguồn tài trợ cho nhiều người hơn, Cô Tim thành lập tổ chức từ thiện chính thức. Tổ chức từ thiện chính thức này có tên là Nhà Cơ Hội Pháp, rồi Nhà May Mắn Thụy Sĩ.

Năm 2002, cô Tim nhận được giải thưởng Swiss Henry Dunant (tên của giải thưởng này là tên của người sáng lập tổ chức Hồng Thập Tự Quốc Tế) Năm 2006, Hiệp Hội Nhà May Mắn được thành lập ở Bỉ.

Đầu năm 2008, Nhà May Mắn Gia Nã Đại và Nhà May Mắn Hoa Kỳ được thành lập.

Dù rằng Nhà May Mắn nguyên thủy đã được mở rộng nhiều lần, rồi cũng trở nên bé nhỏ đối với một gia đình ngày càng trở nên đông đúc hơn.

Năm 2006, sau bẩy năm đầu phôi thai, Trung Tâm Chấp Cánh được thành lập để tách rời nhiệm vụ giáo dục và huấn luyện ra khỏi nơi cư trú của Nhà May Mắn và cũng là để đón nhận thêm những người bất hạnh khác.

Tọa lạc trên một thửa đất rộng 11.800 bộ vuông, Trung Tâm Chấp Cánh có 5 phòng học và 4 khu huấn luyện chuyên nghiệp. Trung tâm cũng tiếp nhận cả học viên ở ngoài Nhà May Mắn gồm khoảng 180 trẻ em từ các gia đình rất nghèo.

Sau thời gian huấn luyện, những người tàn tật có khả năng mưu sinh bằng cách làm việc ngay tại công xường của Nhà May Mắn Những sản phẩm của Nhà May Mắn này ngày nay được bán ở nhiều quốc gia.

Sản phẩm của nhũng người tàn tật

Như hình chụp dưới đây, các sản phẩm gồm có: những con thú độn gòn, những bị vải, có cả tranh ảnh.

Những người công nhân tàn tật này trước kia bị gia đình học coi như là vô dụng, trong năm 2006 , những sản phẩm của họ đã thu về được tới 26 ngàn đô la. Đồng lương trung bình của một người Việt Nam chưa tới một ngàn đô la.

Dự án cuối cùng

Dự án cuối cùng của cô Tim là “Làng May Mắn”, một làng được xây cất đặc biệt cho những người tàn tật. Đây là một loại nhà đầu tiên ở Việt Nam.

Mục tiêu là cung cấp những tiện nghi thích hợp cho những người tàn tật tự lực cánh sinh. Làng May Mắn trong tương lai.

Ngân khoản

Mua đất: 38,000 bộ vuông giá 48 ngàn 300 đồng (chú thích của sachhiem.net: không đề tiền nào, có lẽ Mỹ kim).

Tốn phí xây cất: 301,000 đồng.

Điều hành:

Khi đã xây cất xong, Làng May Mắn sẽ phải tự cung tự quản. Phải có tiên thâu nhập để trang trài cho các khoản tiền chi phí thuê mướn cùng các hoạt động du lịch và quán ăn.

Quán Tử nói: “Cho một người một con cá là bạn nuôi người đó được một ngày.

Dạy cho một người biết các câu cá, người đố sẽ có lương thực ăn cả đời.”

Trong 15 năm tận tâm làm việc dạy cho nhiều người “biết cách câu cá”, cô Tim đã giúp hàng ngàn người kém may mắn, giờ họ đã tìm lại được sự ổn định về tình cảm, đã phục hồi được khả năng tự túc và tìm lại được nhân cách với một thế đứng trong xã hội. Những người may mắn này, trước đó là những người bị bỏ rơi và bị coi như là vô dụng và vô vọng, bây giờ họ đã được diễm phúc với dịp may như là được cải tử hoàn sinh.

Chuyện không may

Nhưng buồn thay, một thảm kịch đã xẩy ra! Ngày 29 tháng 2 (2008) cô Tim bị tai nạn xe gắn máy. Tai nạn này làm cho một chân cô bị thương, xương vai bị bể và phổi bị đam thủng lỗ chỗ (có lễ do mạnh vụn của xương vai đâm vào) . Cô Tim được đưa và bệnh viện để điều trị.

Cô Tim bây giờ đã bình phục nhưng áp lực đối với cô còn nghiêm trọng hơn

Cô phải đình hoàn hầu hết những nỗ lực quyên tiền gây quỹ cho tới khi bình phục hoàn toàn

Cô Tim phải đình hoãn các nỗ lực vận động quyên tiền gây quỹ cho đến khi cô bình phục hoàn toàn.

Có tới hơn 300 người hoàn toàn sống nhờ vào cô Tim.

Tiền chi phí hàng tháng cho Nhà May Mắn lên tới 15 ngàn đô la vì giá cả thực phẩm và săc sóc y tếc ngày càng đắt đỏ. (nhưng trong thực thế chỉ có 50 đô là một người cho một tháng.)

Nhà May Mắn cần phải tìm thêm tiền để hoàn thành dự án Làng May Mắn

Từ việc giúp cho một em bé vô danh đang hấp hối ở bên đống rác ngoài đường phố ở Saìgòn, cô Tim đã dấn thân vào việc giúp cho những người bất hạnh ở Việt Nam trong suốt cả 15 năm thật là đáng ghi nhớ.

Hy vọng rằng cuộc hành trình mà cô đã đi qua, sẽ làm cho rất nhiều người có tấm lòng quảng đại xúc động về những việc làm vĩ đại và cao cả của cô và sẽ tiếp cô trong sứ mạng giúp cho những người bất hạnh đã từng bị thương tật cả tâm hồn và thể xác được có những niềm vui cuộc sống với vị trí mới và vững vàng của họ trong xã hội.

Bạn có thể giúp đỡ bằng cách nào ?

  • Gửi tặng dữ, ký ngân phiếu gửi về Nhà May Mắn Hoa Kỳ:
  • “Maison Chance-USA” 8120 Industrial Parkway Sacramento, CA 95824

    Liên lạc các websites: usa@maison-chance.org hay vietnam@maison-chance.org

    Điện thoại: 832-419-7993 or 916-548-2771 -

    Nhà May Mắn Hoa-kỳ là đại diện chính thức không lợi nhuận của "Hiệp Hội Nhà May Mắn ở Hoa kỳ" (Số danh bộ miễn thuế, hay Tax I.D. nº là: 26-2244746). Mọi số tiền biếu tặng đều được miễn thuế, và có biên lai.

  • Hợp tác bảo trợ cho Nhà May Mắn.
  • Làm thành viên của nhà May Mắn Hoa kỳ. Gửi email về: usa@maison-chance.org
  • Tình nguyện ở Việt Nam. Liên lạc với annelaure@maison-chance.org
  • Giúp chúng tôi phổ biến cho mọi người biết bằng cách gửi tin này cho mọi người quen.

    Để biết thêm chi tiết, xin xem các trang nhà tiếng Việt dưới đây

  • http://www.voh.com.vn/news/news_detail.cfm?iid=19500&ac=0&catid=82
  • http://www.nguoivienxu.vietnamnet.vn/vongtaynhanai/2004/11/342926/
  • http://www.maison-chance.org/alpha/index.php?option=com_content&task=view&id=27&Itemid=45
  • Trang Chính Trị Xã Hội

    21 thg 5, 2008

    Đức Phật & các nhà khoa học

    Gửi bài này cho bạn bè 18 tháng 5, 2008

    "Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó". [Albert Einstein].

    1. Nhân cách vĩ đại của Ðức Phật:


    Ðức Phật là hiện thân của tất cả các đức hạnh mà Ngài thuyết giảng. Trong thành quả của suốt 45 năm dài hoằng pháp, Ngài đã chuyển tất cả những lời nói của Ngài thành hành động; không nơi nào Ngài buông thả cái yếu đuối của con người hay dục vọng thấp hèn. Luân lý, đạo đức căn bản của đức Phật là toàn hảo nhất mà thế giới chưa bao giờ biết đến. [Giáo sư Max Miller, Học giả người Ðức].

    Không một lời thô bạo nào được thấy thốt ra từ nơi đức Phật trong cơn tức giận, chưa từng có một lời thô bạo được thấy trên môi đức Phật kể cả trong lúc tình cờ. [- Tiến Sĩ S. Radhakrishnan].

    Ðiều đáng chú ý nhất nơi đức Phật là sự kết hợp gần như độc nhất của một đầu óc khoa học trầm tĩnh và thiện cảm sâu xa của lòng từ tâm. Thế giới ngày nay ngày càng hướng về đức Phật, vì Ngài là người duy nhất tiêu biểu cho lương tâm của nhân loại. [Moni Bagghee, "Ðức Phật Của Chúng Ta"].

    Các bạn thấy rõ Ngài là một nhân vật đơn giản, chân thành, đơn độc, một mình tự lực phấn đấu cho ánh sáng, một nhân vật sống chứ không phải là thần kỳ, tôi cảm thấy có một Người, đó là Ngài. Ngài đã gửi bức thông điệp cho nhân loại hoàn vũ. Có nhiều tư tưởng tuyệt diệu hiện đại của chúng ta rất gần gũi tương đồng với thông điệp của Ngài, tất cả những đau khổ, bất mãn trong cuộc sống, theo Ngài dạy: là do lòng ích kỷ. Lòng ích kỷ có ba dạng: - Một là tham vọng thỏa mãn cảm giác; - Hai là tham vọng muốn bất tử; - Ba là tham vọng thành công và trần tục. Con người trước khi có thể trở nên thanh tịnh, người đó phải ngưng sống theo giác quan hoặc cho riêng chính mình.

    Rồi con người đó mới trở thành một bậc đại nhân. Ðức Phật, qua nhiều ngôn ngữ khác nhau, năm trăm năm trước Chúa Christ, đã dạy con người đức tính vị tha. Trong một số chiều hướng Ngài rất gần gũi với chúng ta hơn, và đáp ứng được nhu cầu của chúng ta. Ðức Phật cũng tỏ ra sáng suốt hơn Chúa Christ trong sự quan tâm phục vụ con người và ít mơ hồ đối với vấn đề trường tồn bất tử của kiếp nhân sinh. [- H.G. Wells].

    Tôi càng ngày càng cảm thấy đức Thích Ca Mâu Ni gần gủi nhất trong tính cách và ảnh hưởng của Ngài, Ngài là Ðường lối, là Chân lý và là Lẽ sống. [- Giám mục Milman].

    2. Trí tuệ siêu việt của Đức Phật


    Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, đức Phật tuyên bố sự giải thoát, mỗi con người có thể đạt được do chính bản thân mình trong đời sống của mình trên thế giới mà không cần đến sự giúp đỡ của Thượng đế hay thánh thần nào. Ngài nhấn mạnh về giáo lý như lòng tự tin, thanh tịnh, nhã nhặn, giác ngộ, an lạc và lòng thương yêu nhân loại. Ngài cũng nhấn mạnh đến sự cần thiết của kiến thức, vì không có trí tuệ thì siêu linh nội tâm không xâm nhập trong đời sống của Ngài được. [- Giáo Sư Eliot, "Phật giáo và Ấn Ðộ giáo"].

    Ðức Phật không chỉ nhận thức được sự thực tối cao, Ngài còn biểu lộ kiến thức cao cả của Ngài, kiến thức cao hơn tất cả kiến thức của các "Thần linh và Người". Kiến thức của Ngài rất rõ ràng và độc lập không liên can gì đến thần thoại và hoang đường. Tuy nhiên, nơi đây lại còn cho thấy một hình thức vững vàng, tự nó biểu lộ được một cách rõ ràng và hiển nhiên để cho con người có thể theo Ngài. Vì lý do đó, đức Phật không đòi hỏi phải tin nhưng hứa hẹn kiến thức. [- George Grimm, "Giáo Lý của đức Phật"].

    Lần đầu tiên trong lịch sử loài người, đức Phật khuyến dụ, khẩn cầu và kêu gọi con người không nên làm hại một sanh mạng, không nên dâng lời cầu nguyện, lời ca tụng, hay hy sinh (sanh mạng) cho các Thần linh. Với tất cả tài hùng biện trong sự thuyết giảng của Ngài, đấng Vô Thượng Sư có lần hùng hồn tuyên bố là Thần linh, nói cho đúng, cũng cần đến sự giải thoát cho chính họ. [Giáo Sư Rhys Dadis].

    Ðức Phật không giải thoát con người, nhưng Ngài dạy con người phải tự chính mình giải thoát lấy mình, như chính Ngài đã tự giải thoát lấy Ngài. Con người chấp nhận giáo lý của Ngài là chân lý, không phải giáo lý này đến từ nơi Ngài, nhưng vì lòng xác tín cá nhân, thức tỉnh bởi những lời Ngài dạy, trỗi dậy bởi ánh sáng trí tuệ của chính mình. [- Tiến Sĩ Oldenburg, Một học giả Ðức].

    Dường như người thanh niên bất diệt, hiền lành, ngồi khoanh chân trên hoa sen thanh tịnh với bàn tay phải dơ lên như khuyên nhủ như trả lời: "Nếu con muốn thoát khỏi sự đau khổ và sợ hãi, con hãy luyện tập trí tuệ và từ bi". [Anatole France].

    Sự khác biệt giữa đức Phật và một người bình thường giống như sự khác biệt giữa một người bình thường và một người mất trí. [- Một Văn Hào].

    Nếu chúng ta hỏi, chẳng hạn, có phải vị trí một hạt nhân điện tử lúc nào cũng giữ nguyên không thay đổi, chúng ta phải trả lời "không"; nếu chúng ta hỏi có phải vị trí của một hạt nhân điện tử thay đổi theo thời gian, chúng ta phải trả lời "không"; nếu chúng ta hỏi có phải hạt nhân đó đang di động, chúng ta phải trả lời "không". Ðức Phật cũng đã giải đáp như vậy khi có người hỏi tình trạng bản ngã của con người sau khi chết; nhưng những câu trả lời như trên không phải là những câu trả lời quen thuộc theo truyền thống khoa học ở thế kỷ 17 và 18. [J.Robert Oppenheimer].

    Nếu một vấn đề nào đó cần được đề ra, vấn đề đó phải được giải quyết trong hài hòa và dân chủ theo đường lối dạy bảo của đức Phật. [- Tổng thống Nehru].

    3. Cống hiến của Đức Phật với nhân loại:

    Trong thế giới giông tố và xung đột, hận thù và bạo lực, thông diệp của đức Phật sáng chói như vầng thái dương rực rỡ. Có lẽ không bao giờ thông diệp của Ngài lại thiết yếu hơn như trong thời đại của thế giới bom nguyên tử, khinh khí ngày nay. Hai ngàn năm trăm năm qua đã tăng thêm sanh khí và chân lý của thông điệp này. Chúng ta hãy nhớ lại bức thông điệp bất diệt này và hãy cố gắng thi triển tư tưởng và hành động của chúng ta trong ánh sáng giáo lý của Ngài. Có thể chúng ta phải bình thản đương đầu cả đến với những khủng khiếp của thời đại nguyên tử và góp phần nhỏ trong việc khuyến khích nghĩ đúng (Chánh tư duy) và hành động đúng (Chánh nghiệp). [Tổng thống Nehru].

    Trên quả địa cầu này, Ngài đem ý nghĩa những chân lý giá trị trường cữu và thúc đẩy đạo đức tiến bộ không chỉ cho riêng Ấn độ mà cho cả nhân loại. Ðức Phật là một nhà đạo đức vĩ đại kỳ tài chưa từng thấy có trên hoàn vũ. [Albert Schweizer, một nhà lãnh đạo triết học Tây Phương].

    Sự thanh tịnh của tâm linh và lòng thương yêu tất cả sinh vật đã được dạy dỗ bởi đức Phật. Ngài không nói đến tội lỗi mà chỉ nói đến vô minh và điên cuồng có thể chữa khỏi bởi giác ngộ và lòng thiện cảm. [- Tiến Sĩ Radhakrisnan, "Ðức Phật Cồ Ðàm"].

    Ðức Phật không phải là của riêng người Phật tử, Ngài là của toàn thể nhân loại. Giáo lý của Ngài thông dụng cho tất cả mọi người. Tất cả các tôn giáo khai sáng sau Ngài, đều đã mượn rất nhiều các tư tưởng hay của Ngài. [- Một học giả Hồi Giáo].

    Khi chúng ta đọc những bài thuyết giảng của đức Phật, chúng ta cảm kích bởi tinh thần hợp lý của Ngài. Con đường đạo đức của Ngài ngay trong quan điểm đầu tiên là một quan điểm thuần lý. Ngài cố gắng quét sạch tất cả những màng nhện giăng mắc làm ảnh hưởng đến cái nhìn và định mệnh của nhân loại. [Tiến Sĩ S.Radhakrisnan,"Ðức Phật Cồ Ðàm"].

    Ðức Phật là người cha nhìn thấy đàn con đang vui chơi trong ngọn lửa thế tục nguy hiểm, Ngài dùng mọi phương tiện để cứu các con ra khỏi ngôi nhà lửa và hướng dẫn chúng đến nơi an lạc của Niết bàn. [- Giáo sư Lakshimi Narasu, "Tinh Hoa Của Phật giáo"].

    4. Giáo pháp của Đức Phật:

    Ðọc một chút về Phật giáo là đã biết rằng hai ngàn năm trăm trước đây, người Phật giáo đã hiểu rõ xa hơn và đã được thừa nhận về những vấn đề tâm lý hiện đại của chúng ta. Họ đã nghiên cứu những vấn đề này từ lâu và đã tìm thấy câu trả lời. [- Tiến Sĩ Graham Howe].

    Phật giáo chưa bao giờ ép ai theo dù dưới hình thức nào - hoặc ép buộc ý tưởng và niềm tin đối với người không thích, hoặc bằng bất cứ một sự tâng bốc nào, bằng lừa gạt hay ve vãn, hầu đoạt được thắng lợi để gia nhập vào quan điểm riêng tư của mình. Những nhà truyền giáo của đạo Phật không bao giờ thi đua để dành người quy nạp vào Ðạo như nơi chợ búa. [- Tiến sĩ G. P. Malasekara].

    Chỉ nói về Phật giáo thôi, ta có thể xác nhận là tôn giáo này thoát khỏi tất cả cuồng tín. Phật giáo nhằm tạo trong mỗi cá nhân một sự chuyển hóa nội tâm bằng cách tự chiến thắng lấy mình. Nhờ đến sức mạnh và tiền bạc hay cả đến sự chinh phục để tác động mọi người vào đạo thì sao? Ðức Phật chỉ rõ một con đường giải thoát duy nhất để cho cá nhân tự quyết định nếu muốn theo tôn giáo này. [- Giáo Sư Lakshmi Nasaru, "Tinh Hoa của Phật giáo"].

    Không thể cho rằng Phật giáo bị suy yếu, ngay hiện tại, vì Phật giáo bắt nguồn trên những nguyên tắc cố định chưa bao giờ bị sửa đổi. [- Gertrude Garatt].

    Mặc dù người ta có thể được thu hút từ nguyên thủy bởi sự khoáng đạt của tôn giáo này nhưng người ta chỉ có thể tán dương giá trị thực sự của Phật giáo khi người ta phán xét kết quả tạo ra của tôn giáo này thông qua đời sống của chính mình từ ngày này qua ngày khác. [- Tiến Sĩ Edward Conze, Một học Giả Phật giáo Tây Phương].

    Phật giáo là một tôn giáo tự giác, ít lễ nghi. Một hành động được thực thi với chính sự suy tư thì tự nó đã điều kiện hóa để không còn là một nghi lễ. Phật giáo nhìn bề ngoài có vẻ nhiều nghi lễ nhưng thực ra không phải như vậy. [- Tiến sĩ W.F.Jayasuriya, "Tâm lý và Triết lý Phật giáo"].

    Là Phật tử hay không phải là Phật tử, tôi đã quan sát mọi hệ thống của các tôn giáo trên thế giới, tôi đã khám phá ra không một tôn giáo nào có thể vượt qua được về phương diện vẻ đẹp và sự quán triệt, Bát chánh đạo và Tứ diệu đế của đức Phật. Tôi rất mãn nguyện đem ứng dụng cuộc đời tôi theo con đường đó. [Giáo sư Rhys Davids].

    Trên những giải đất mênh mông của thế giới, vận mệnh nhân loại vẫn còn tồn tại. Rất có thể trong sự tiếp xúc với khoa học Tây phương và cảm hứng bởi tinh thần lịch sử, giáo lý căn bản của Ðức Cồ Ðàm được phục hưng và thuần khiết, có thể chiếm một vị trí phần lớn trong hướng đi của vận mệnh nhân loại. [- H.G.Well].

    Lý thuyết của Phật pháp vẫn đứng vững ngày nay không bị ảnh hưởng bởi tiến trình của thời gian và sự tăng trưởng kiến thức, vẫn giữ nguyên như lúc ban đầu bầy tỏ. Dù cho kiến thức khoa học tăng tiến đến thế nào trên chân trời trí óc của con người, trong phạm vi Giáo pháp (Dhamma) cũng vẫn có chỗ để thừa nhận và đồng hóa các khám phá xa hơn nữa. Về phương diện thu hút của lý thuyết nầy không dựa vào các khái niệm giới hạn của các tư tưởng sơ khai, về phương diện khả năng cũng không bị lệ thuộc vào những phủ định của tư tưởng. [- Francis Story, "Phật giáo, Một Tôn Giáo Thế Giới"].

    Phật giáo là một phương thức làm sao để đạt được lợi lạc cao nhất từ cuộc sống. Phật giáo là một tôn giáo của trí tuệ mà ở đấy kiến thức và thông minh chiếm ưu thế. Ðức Phật không thuyết giảng để thâu nạp tín đồ mà là để soi sáng người nghe. [- Một Văn Hào Tây Phương"].

    "Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học".

    "Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó"
    . [Albert Einstein].

    Trang Tôn Giáo

    20 thg 5, 2008

    Đọc Đường xưa mây trắng

    Tôi đọc cuốn

    ĐƯỜNG XƯA MÂY TRẮNG.

    Sơn Dã Bần Phu

    Gửi bài này cho bạn bè 18 tháng 5, 2008

    Nhân mùa Phật Đản thứ 2552, để tưởng nhớ và tri ân công đức của một nhà Hiền Triết, nhà Đại Văn Hóa, đó là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, xin được có vài dòng giới thiệu về cuốn ĐƯỜNG XƯA MÂY TRẮNG của thiền sư Thích Nhất-Hạnh với quý vị gần xa.

    “Tác phẩm đã bán được hơn một triệu bản tại Bắc Mỹ và được dịch ra 20 thứ chữ, trong đó có chữ Hindu. Chính vì thế mà nhà tỷ phú Ấn-Độ Bhupendra Kuman Modi sau khi đọc Đường Xưa Mây Trắng đã nói với phóng viên tờ Hollywood Reporter: “Tôi tìm được cuốn Đường Xưa Mây Trắng từ hai năm nay, cuốn sách đã thay đổi đời tôi và nay đến lượt tôi phải chia xẻ hạnh phúc ấy với thế giới”.

    Ông đã tài trợ 120 triệu USD để các nhà sản xuất dựa theo Đường Xưa Mây Trắng dựng thành phim”. (Lời nhà xuất bản năm 2006)

    Đối với các tín đồ của các tôn giáo thuộc loại Thần giáo, có thể đọc mà không sợ lung lay đức tin của mình.

    Tôi đọc cuốn ĐƯỜNG XƯA MÂY TRẮNG.

    Tôi viết lên đây xin mời quý các-hạ cùng với thiền sư Thích Nhất-Hạnh theo bước chân Bụt tìm về một thời quá khứ hơn hai ngàn năm trăm năm trước để hiểu rỏ tại sao một vị thái-tử lại bỏ cung vàng điện ngọc vào chốn rừng sâu, đi xin ăn, chịu gió rét mưa ngàn, chân trần, nằm đất hầu mong tìm một giải pháp cho nổi niềm ưu tư của mình.

    ĐỨC PHẬT LÀ MỘT NHÂN VẬT TRONG HUYỀN THOẠI HAY CÓ THỰC?

    Từ xưa, nhiều người thường hay tưởng nhầm rằng Phật là một đấng thần linh, có nhiều bùa phép kinh thiên động địa, hay là một nhân vật thần thoại như những tôn giáo thuộc loại thần giáo hiện thời.

    Vậy thì “Phật” là gì? Phật là phiên âm theo tiếng Tàu từ chữ Buddh của tiếng Phạn (Sanskrit), là Bụt, hay Phật. Bụt nghĩa là “Tỉnh Thức”, tức là thấy rỏ mọi sự vật đều Vô Thường. Và người nào đã tỉnh thức thì gọi là Buddha, phiên âm ra chữ Tàu là Bụt Đà, hay là Phật Đà.

    Vào những năm cuối thế kỷ XIX, Sir Alexander Cunningham, nhà thám hiểm người Anh đã đào lên 4 trong số 20 trụ đá được chạm khắc những lời Phật dạy, ở làng Buddh Gaya, thuộc bang Bihar, tả ngạn sông Phalgu, một chi nhánh của sông Hằng-hà. Lăng thờ (shrine) Phật được thiết lập bởi vua A-Dục (Ashoka) vào thế kỷ thứ III, BC. Sau đó lăng thờ này được vua Kushan, thế kỷ thứ II, BC thay thế bằng một ngôi chùa thờ Phật, (Mahaboddhi temple). Những trụ đá này được chạm khắc vào thế kỷ thứ I, BC. (Những trụ đá này hiện được dựng tại địa điểm Phật giảng giáo lý thời bấy giờ). Bây giờ UNESCO đã công nhận đây là Di Sản Văn Hóa và Thiên Nhiên của Thế giới, (Cultural and Natural World Heritage Site in 2002), và chọn ngày 15 tháng 5 hằng năm làm ngày Vesak, là kết hợp ngày Phật đản, ngày thành đạo và ngày nhập diệt. Từ đó càng ngày càng nhiều người tây phương tìm hiểu và quy y Đạo Phật với một sự kính nể tột bực. Từ trước, người tây phương cứ nghĩ một cách sai lầm rằng Phật Thích-Ca là một nhân vật trong huyền thoại. Có lẻ họ suy luận từ những tôn giáo của họ đều đượm màu siêu hình, hay còn gọi là Thần giáo.

    VŨ TRỤ DƯỚI QUAN ĐIỂM CỦA ĐẠO PHẬT NHƯ THẾ NÀO?

  • Ngày xưa lúc khoa học chưa được loài người hiểu biết thấu đáo, trong mọi vật đều có thần thánh: Cây cỏ, sông núi, đất đai, côn trùng, heo gà, chó mèo…đâu đâu cũng đều có thần thánh ẩn núp. Những tôn giáo thuộc loại thần giáo tin tưởng rằng vũ trụ này do các đấng thần linh nào đó sáng tạo ra. Trước khi Đức Jésus Christ ra đời, bên Hy-Lạp, La-Mã, Ai-Cập, Ấn-Độ có cả hằng trăm vị thần: Thần mặt trời, thần mặt trăng, thần sông, thần núi, thần bò, thần dê .v.v. Nhưng sau đó chỉ thờ độc thần thôi, đó là Thiên-Chúa (Đức Chúa Cha của Đức Jésus, mà Đức Jésus cũng là Thiên-Chúa giáng sinh). “Thiên-Chúa sáng tạo muôn loài trong 6 ngày…” (Lời linh mục Nguyễn-hữu-Triết nói với tôi trong dịp gặp gở Mùa Thu năm 2007). Nhân loại càng chậm tiến, càng sợ sệt thì thần thánh vẫn còn ẩn núp đâu đó. “Sự sợ hải đã tạo nên các thần linh” (Lucrèce, thi sĩ La-tinh, thế kỷ I, BC; Will & Ariel Durant, Bài học của Lịch sử, N-h-Lê dịch, tr. 61).

  • Đối với Đạo Phật, sự hiện hữu và tồn tại của vũ trụ do đâu: “Vạn pháp từ nhân duyên mà sinh”. Đối với Đạo Phật thì không có một đấng thần linh nào tạo nên vũ trụ. Mà mọi sự vật đều do Duyên Sinh, Vạn Pháp do Duyên Sinh. Cái Này có thì Cái Kia có. Cái Này diệt thì Cái Kia diệt. Trong cái này có cái kia. Trong cái kia có cả cái này: Đó là TƯƠNG TỨC và TƯƠNG NHẬP.

    Charles Éliot viết: “Phật nghĩ rằng thế giới không phải do một đấng thần linh nào tạo ra, mà luân lý cũng không phải do thần linh khải thị. Đạo Phật không dựa vào những quan niệm đó mà thành lập và tồn tại được, đó là một điều quan trọng bậc nhất”. (William James Durant, The Story of Civilization, Lịch Sử Văn minh Ấn-Độ, Nguyễn-hiến-Lê dịch, tr. 121).

    Sự lý giải này càng ngày càng gần gủi với những thành tựu và khám phá của của khoa học.

    SỰ NGỘ NHẬN ĐỐI VỚI ĐẠO PHẬT:

    Thưở thơ ấu, tôi thường nghe kể những chuyện thần thông của Phật giáo, nhưng thực sự trong cuộc đời Đức Phật không đượm màu huyền bí. Vì sao chúng ta thường nghe những chuyện kể như vậy? Trong vấn đề truyền bá giáo lý Đạo Phật có hai trường hợp khi truyền bá giáo lý: Khế lý và khế cơ.

    -Khế lý là những chân lý không bao giờ thay đổi trong mọi hoàn cảnh, đó là chân lý về Nghiệp báo, Nhân quả, Luân hồi, nguyên tắc của đạo đức, lẻ phải ...

    -Khế cơ là tuỳ trình độ của chúng sanh mà phương cách giáo dục khác nhau.

    Thí dụ đối với những người quan niệm tôn giáo là phải huyền bí, nhiệm mầu thì nên dùng những hình ảnh và thần thánh hóa những câu chuyện xảy ra trong cuộc đời Đức Phật để giảng dạy giáo lý. Còn đối với những nhà khoa học, những người có trình độ nhận thức cao thì phải dùng những nguyên tắc, lý luận thật hợp lý, hợp khoa học để giảng dạy. Nếu áp dụng phương pháp thứ hai này mà giảng dạy cho lớp người thứ nhất thì “không nhiệm mầu”, không linh thiêng, là chuyện thường tình, có gì huyền bí đâu?” Thế gian này người ta quan niệm tôn giáo là như vậy rất nhiều, vì đại đa số trình độ hiểu biết và nhận thức của nhân loại còn rất giới hạn. Hơn nữa giáo lý Đạo Phật rất cao siêu, vi diệu nên kẻ dân dã không dể gì hiểu được dể dàng. Có sách nói rằng Đạo Phật là đạo của kẻ trí.

    “Đạo Phật không phải là một tôn giáo, Đạo Phật không Tôn thờ một Giáo điều nào”, như lời một vị tăng-thống đã nói với tôi. Một vị sư thuộc đạo Bà-La-Môn hỏi Ngài đi theo Lý Thuyết nào, thuộc Hệ Thống nào. Phật trả lời rằng Phật không theo lý thuyết hay hệ thống nào,… Vì rằng nếu lệ thuộc theo lý thuyết hay hệ thống thì con người dể bị ràng buộc, hay còn gọi là KIẾN THỦ. Mà kiến thủ thì không mở mang được kiến thức, tầm nhìn. Càng bị kiến thủ ràng buộc thì càng cố chấp, càng cuồng tín.

    Đức Phật rất trân quý sự hiểu biết và tôn trọng sự tự do quyết định của người khác. Giáo lý Đạo Phật đứng trên tất cả mọi địa vị và sự giàu sang.

    Mặc dù các bậc cha mẹ bà Pearl Buck và Hermann Hesse là những nhà truyền đạo Thiên-chúa-giáo, nhưng họ đã cảm nhận điều này như một chân lý.

    Trước đây dưới thời Pháp thuộc, ít có sách giải thích Đạo Phật một cách khoa học. Khách thập phương đến chùa, thường nghe các thầy, sư cô tụng kinh bằng chữ Nho, và chữ Phạn; Hay nói về sự phò hộ, ban ơn. Trên thực tế có ai đạt được sự phò hộ mà họ cầu nguyện. Nếu ai cầu nguyện cũng đều như ý thì thế gian này tốt đẹp biết bao. Trước những khó khăn của cuộc đời, Đạo Phật không chủ trương cầu nguyện để mong một “phép mầu”, hay “mầu nhiệm” linh thiêng nào cứu rổi. Mà phải nhìn thẳng vào lý do sự việc, tìm ra nguyên nhân, gút mắc vấn đề hầu mong tìm hướng giải quyết. Thực vậy, cầu nguyện chỉ có tính cách tạm bợ trong lúc tuyệt vọng, bối rối để an ủi, một thứ hiệu quả của tâm lý mà thôi. Nếu sau đó không nhìn thẳng vào sự viêc thì chẳng bao giờ giải quyết được vấn đề. Bệnh thì phải tìm đến lương y và tiệm thuốc, cầu nguyện đâu thể nào lành bệnh được. Nếu người tây phương cầu nguyện mà lành bệnh thì đã chẳng có các trường y khoa, dược khoa.

    Thêm vào đó, vì lý do này hoặc lý do khác Đạo Phật bị xuyên tạc, làm cho dân chúng nhìn Đạo Phật với con mắt bi quan yếm thế: Nào là thất tình, tuyệt vọng, chán đời mới vô chùa nương nhờ cửa Phật. Một số các tiểu thuyết của những năm đầu thập niên ba muơi như Lan và Điệp là tiêu biểu. Phần vì thế gian thích được che chở, phù hộ, ban ơn hơn là tự mình tu dưỡng để trở thành người tốt nên tìm đến những tôn giáo nào với hy vọng đáp ứng được ước vọng thì nương theo. Chính vì trình độ hiểu biết của dân chúng có giới hạn như vậy, nên Đạo Phật cũng theo đó mà bị nhìn với quan niệm như các loại thần giáo.

    Người ta thường giải thích một cách gượng gạo rằng đức tin thì không cần phải lý luận hợp lý, đúng hay sai. Nhưng đức tin mà không có lý trí là mê tín, mê tín sẽ đưa đến cuồng tín. Phật khuyên rằng không nên tin những gì các sư sãi nói nếu xét thấy không hợp lý . Những kẻ gán ghép đức tin không cần lý luận vì họ là tín đồ các loại Thần giáo. Vì là thần giáo nên không giải thích đựơc các trường hợp bất hợp lý xảy ra. Càng ngày khoa học càng chứng minh những niềm tin thiếu lý trí là không đúng với thực tế.

    Thí dụ điển hình là Đức Giáo-Hoàng John Paul II đã xin lỗi thế giới về vụ án nhà thiên văn học Galileo Galilei (1564-1642). Một số các nhà thiên văn học khác bị giết vì tuyên bố những thành tựu của ngành thiên văn mà trái với Kinh thánh. Nếu kể ra đây thì dài lắm, xin đọc Tôn Giáo Chiến Tranh Hòa Bình của ông Bửu-Biền.

    Đọc ĐXMT sẽ thấy thầy Nhất-Hạnh sẽ lý giải sự ngộ nhận này như thế nào.

    QUAN NIỆM VỀ LUÂN HỒI VÀ NGHIỆP QUẢ:

    Một dấu hỏi (?) lớn trong triết lý Đạo Phật đó là vấn đề TỰ NGÃ (Atman) , và LINH HỒN. Phật không bao giờ nhắc đến linh hồn, một quan niệm có tính cách siêu hình. Phật bảo rằng hý luận về những đề tài này sẽ gây thêm phiền não, rồi đưa đến cải vả vô ích. Và Phật không công nhận cái Tự Ngã trong con người, nhưng mà cũng không phải là Hư Vô, Vô Ngã (Anatman). Nếu không có Tự Ngã hay không có Linh Hồn thì cái gì sẽ mang cái NGHIỆP (Karma) để luân hồi từ kiếp này sang kiếp khác? Sóng biển dâng lên rồi tan biến, nhưng nước thì vẫn hằng còn. Sóng là biểu hiện, và nước là bản chất. “Yêu em từ thưở mẹ về với cha” vẫn còn là giới hạn của vạn thể. “Em”, “anh” hay “mẹ” hay là “cha” đã có trong vũ trụ từ thưở nào rồi. Tất cả chúng ta có mặt hôm nay chỉ là biểu hiện, nhưng thực tế chúng ta đã có từ ngàn xưa. Chúng ta đã tồn tại nhưng được biểu hiện dưới mọi hình thức khác nhau. Sương mù, mây, mưa, băng hay tuyết đều là Nước (H2O) dưới các hình thức thể hơi, thể lỏng, thể đặc mà thôi, tùy theo điều kiện vật lý mà thể hiện khác nhau. Đọc Đường Xưa Mây Trắng, Thầy Nhất-Hạnh sẽ nói về quan niệm luân hồi, cái gì sẽ luân hồi, và luân hồi như thế nào.

    Thực ra các thuyết Luân-Hồi, Nhân-Quả và Nghiệp Báo không phải do Đức Phật khám phá ra đầu tiên. Trước thời Đức Phật, Đạo Ba-La-Môn (Brahaman) và Đạo Jaiin (tiếng Trung-Hoa gọi là Kỳ-Na-Giáo) đã nói tới các vấn đề này rồi. Nhưng phương cách để thoát ra ngoài vòng luân-hồi, nghiệp báo và nhân-quả của Đạo Phật khác xa với phương cách của các giáo phái kia. Theo Đức Phật, phương cách của các giáo phái kia không thể giải quyết được vấn đề.

    Trong ĐXMT không đượm mùi Thần giáo. Không có “phép mầu”, “ban ơn” hay bắt buộc phải xa lìa tôn giáo của mình. Quý vị đang ở trong những tôn giáo thuộc loại Thần giáo có thể đọc ĐXMT thoải mái mà không cảm thấy bị xa cách với Ông Thần của quý vị, và Đức Tin không bị lung lay. Đức Phật không bắt buộc người khác phải tôn thờ Người. Tu là tu cho chính người đó được giải thoát, để trở thành con người tốt hơn. Mỗi người trở thành tốt hơn thì xã hội sẽ tốt đẹp hơn. Và thế gian sẽ yên vui hoàn mỹ. Đạo Phật thực hiện tính bình đẳng với mọi người trong mọi xã hội. “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành.” (Lời Đức Phật). Chúng sinh đều có thể thành Phật, nếu tu theo Bát Chánh Đạo.

    Đạo Phật không chủ trương cần tín đồ đông đúc, không có tính cách bè đảng. Và Phật cũng đã khuyên tín đồ các tôn giáo khác “không nên bỏ tôn giáo của mình” miễn rằng thực hành theo Bát Chánh Đạo đều có thể thành Phật được. Bát Chánh Đạo là gì, và thực hành như thế nào? Xin đọc ĐXMT.

    TÍNH KHOA HỌC TRONG GIÁO LÝ ĐẠO PHẬT, VÀ CỨU CÁNH CỦA ĐẠO PHẬT:

    Cũng như Chúa Jésus, Phật chủ trương bất bạo động. Lấy lòng Từ Bi, Bác Ái làm gốc. Nhờ quán chiếu mới hiểu được nhau. Có hiểu được nhau mới thông cảm và độ lượng mà thương yêu nhau, đó là Từ Bi, là Bác Ái. Nói là thương nhau nhưng nếu không hiểu nhau chỉ là tình thương vị kỷ mà thôi. Tình thương vị kỷ thì không bao giờ bền vững. Và nếu không đạt được thì có thể trở thành hận thù.

    Muốn có Từ Bi, phải “Quán chiếu”. Và quán chiếu như thế nào? Quán chiếu hơi thở (quán sổ tức) giúp ta đạt đến chánh niệm. Chánh niệm giúp ta đạt đến Từ, Bi, Hỷ, Xả. Muốn đạt đến Từ Bi Hỷ Xả phải giữ Tâm Thanh Tịnh, hay là Tâm Bình Thản. Khi tâm đã thanh tịnh tức đã đạt đến mức độ Thượng Thừa cho người tu Phật.

    Cứu cánh của Đạo Phật là GIẢI THOÁT và GIÁC NGỘ. Có quán chiếu ngũ uẩn mới thấy đời là Vô Thường. Vô thường nhưng mà Hằng Thường. Vì cái Vô Thường của cuộc đời nên tìm cách Giải Thoát khỏi Vô Thường. Giải thoát cái gì? Giải thoát con người khỏi Vô Minh. Nguồn gốc của đau khổ là ham muốn. Bởi vì Vô Minh mới ham muốn, muốn diệt ham muốn phải biết đời là Vô Thường.

    Và tại sao phải Giác ngộ? Có Giác Ngộ mới Giải Thoát. Muốn Giải Thoát hãy áp dụng tu dưỡng theo GIỚI. Muốn Giác Ngộ áp dụng ĐỊNH và Định sẽ đưa đến HUỆ (TUỆ). Có giữ Giới tâm trí mới đưa đến Định. Chậu nước có yên lặng (Định) ta mới soi thấy mặt mủi của ta (Bản lai diện mục). Áp dụng như thế nào? Xin đọc ĐXMT.

    Trong mỗi con người chúng ta ai cũng đều có Phật Tính (Buddhata), tu dưỡng tức là làm cho Phật tính sáng tỏ. Tu dưỡng như thế nào? Hãy nương theo Tăng (Sangha) để có sự dìu dắt theo con đường Chánh Pháp (Dharma). Chánh Pháp là con đường dẫn tới thực tại chứ không phải là thực tại. “Hãy nương theo ngón tay ta mà nhìn thấy mặt trăng, chứ ngón tay ta không phải là mặt trăng” (lời Đức Phật).

    Đạo Phật giải quyết vấn đề gút mắt của cuộc đời bằng khoa học, bằng những phương pháp hợp lý chứ không trông chờ vào một sự linh thiêng viễn vông nào.

    ĐẠO PHẬT VỚI CUỘC ĐỜI:

    Trước đây vì hoàn cảnh đất nước nên sinh hoạt của Đạo Phật không được thoải mái như tôn giáo khác. Hơn bốn năm mươi năm về trước, thiền sư Thích Nhất-Hạnh đã đưa Đạo Phật vào với đời. Đạo không thể tách rời Đời, Đạo là để giúp Đời.

    Trong dịp đi cứu trợ nạn nhân chiến cuộc Tết Mậu Thân, 1968 ở Huế, tôi đã có dịp cùng hoạt động với các thanh niên trong “Phong Trào Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội” do Thầy thành lập (trụ sở ở đường Nguyễn-Trãi Chợ-Lớn), được biết rằng các thanh niên nam nữ hoạt động không dể dàng gì. Vì có kẻ sợ ảnh hưởng của Đạo Phật lan truyền nhanh trong dân chúng, nên có một số thành viên bị giết bởi súng đạn. Rồi sau đó phong trào không còn hoạt động nữa.

    Nếu áp dụng Đạo Phật vào đời sống gia đình, xã hội thì gia đình và xã hội được yên vui tốt đẹp hơn. Đối với giai cấp lãnh đạo, giáo lý nhà Phật khuyên nên áp dụng Nhân trị hơn là Pháp trị. Ngay từ thời Phật còn tại thế, Ngài đã dạy các sa môn sáu nguyên tắc hòa hợp (lục hòa) để mọi người sống trong thanh tịnh. Trong một cộng đồng, xã hội muốn được an vui đều phải áp dụng cách sống này.

    Thông thường những loại sách như cuốn ĐXMT không dể gì xem một lần mà cảm nhận ngay. Vì sao?

  • Có thể lúc còn hăng hái trên đường danh lợi, hoặc tuổi còn trẻ, làm gì cũng thành công, sao lại gọi là Vô Thường? Ai dại gì từ bỏ vợ đẹp, nhà cao cửa rộng, giàu sang phú quý? Rồi sẽ tự hỏi rằng tôn giáo gì kỳ quá, sao Phật lại đi ăn xin? Đọc ĐXMT sẽ hiểu rỏ tại sao các phái Phật Giáo Nguyên Thủy và Phật Giáo Tiểu Thừa các sa-môn lại đi khất thực.

  • Có thể có người thích “linh thiêng”, “mầu nhiệm”, cái gì bí ẩn hay nửa kín nửa hở thì có vẻ hấp dẩn hơn.

    Tóm lại, cái hay của cuốn sách là giải thích rất KHOA HỌC về giáo lý Đạo Phật. Không có phép thần thông hay một hơi hướm gì đượm tính cách mê tín cả. Cuốn sách được viết dưới dạng của tiểu thuyết, hay chuyện kể. Cũng giống như Đức Khổng-Tử, trong lúc đi hoằng pháp, gặp chuyện gì, các Ngài lấy đó ra mà giảng dạy cho thế gian. Đức Phật luôn luôn đem những chuyện cụ thể xảy ra trong đời sống làm thí dụ cho lời giảng của Ngài. Những lời giảng dạy này sau đó được các đệ tử đúc kết lại thành Kinh, hay gọi là Kinh Điển. Mọi tầng lớp, mọi trình độ của chúng ta có thể hiểu biết Đạo Phật dể dàng. Đọc lần thứ nhất, thấy chưa thấm bao nhiêu, đọc nữa. Càng đọc sẽ càng có thêm nhiều bước đi vững chải cho triết lý nhân sinh, cho cách sống của mình. Đây là cuốn sách cô đọng của bao nhiêu Kinh Tạng về tinh hoa của Đạo Phật.

    Đọc trong Đường Xưa Mây Trắng, quý vị có thể nhận biết được một vài phần của Kinh Kim Cang, Kinh Bát Nhả, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Pháp Ấn, Kinh A-Hàm, đã được dẩn chứng trong đó.

    Nhận định một cuốn sách viết về những tư tưởng vĩ đại như thế không phải đơn giản với những dòng chữ này. Thiết tưởng còn rất nhiều thiếu sót, và kính mong quý các-hạ chỉ dạy thêm. Ước mong bài viết nhỏ nhoi này là một hạt bụi trong vũ trụ bao la của nền triết lý Đạo Phật vĩ đại và vi diệu.

    Vì hầu hết những chuyện kể trong sách mà thiền sư Thích Nhất-Hạnh tham khảo phần lớn là những Tạng và Kinh trong Phật giáo Tiểu-Thừa nên quý vị có thể đọc thêm những sách sau đây để hiểu rộng hơn:

  • 2007 Britannica Encyclopedia Set (32 Volume Set), Volume B, Volume H.

  • Bà Pearl Buck (1892-1973), giải Nobel Văn chương năm 1938. Cha mẹ là những nhà truyền giáo: Peony, Lưu đày, Mấy người con trai Vương Long…

  • Hermann Hesse (1877-1962), giải Nobel văn chương năm 1946. Dòng họ là những nhà truyền giáo đạo Tin-Lành nhưng ông say mê với kinh điển Đạo Phật: Câu Chuyện Dòng Sông, Bùi-Giáng dịch.

  • Kimura Taiken: Tiểu-Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận, Hòa thượng Thích Quãng-Độ dịch.

  • Thích Tâm-Thiện: Tìm Hiểu Nhân Sinh Quan Phật Giáo.

  • Peter Della Santina: The Tree of Enlightenment. E-mail: overseas@budaedu.org.tw

  • Walpola Rahula: What The Buddha Taught (Đức Phật Đã Dạy Những Gì (Con Đường Thoát Khổ), Thích Nữ Trí-Hải dịch.

  • Thích Hạnh-Bình: Tìm Hiểu Phật Giáo Nguyên Thủy.

    Thực ra có rất nhiều Kinh Điển để quý vị đọc mà hiểu thêm về triết lý Nhà Phật, nhưng nếu giới thiệu nhiều quá e chỉ làm rối loạn chúng ta thôi. Kinh sách của Phật Giáo như biển cả, như rừng già, Đường tăng Tam-Tạng mang về từ Ấn-Độ 657 bộ kinh bằng chữ Phạn. Mỗi ngày chỉ mong “thâm nhập Kinh Tạng” một ít là quý lắm rồi.

    A-Di-Đà-Phật!

    Kính chúc quý vị “Thân Tâm An Lạc”.

    Mùa Phật Đản thứ 2552.

    Sơn Dã Bần Phu kính bái.

  • Trang Tôn Giáo

    Đường xưa mây trắng

    THƯ VIỆN HOA SEN
    c
    Home
    Kinh Ðiển
    Giới Luật
    Luận Giải
    Phật Học
    Thiền Nguyên Thủy
    Tổ Sư Thiền
    Niệm Phật
    Sử Phật Giáo
    Pháp Luận
    Tự Ðiển Phật Học
    Dinh Dưỡng Chay
    Truyện Ngắn
    Diễn Ðàn
    Index Tác-Giả









    .
    Theo Gót Chân Bụt
    ĐƯỜNG XƯA MÂY TRẮNG
    Thích Nhất Hạnh
    Lá Bối Xuất Bản lần 2, 1992, San Jose, California, USA
    ML
    01
    02
    03
    04
    05
    06
    07
    08
    09
    10
    11
    12
    13
    14
    15
    16
    MỤC LỤC
    QUYỂN MỘT
    01
    01. Đi để mà đi
    02. Nghệ thuật chăn trâu
    03. Mớ cỏ Kusa.
    04. Chim thiên nga trúng tên.
    05. Bát sữa cứu mạng.
    09
    41. Ai có thấy mẹ tôi ở đâu không ?
    42. Không hiểu biết thì không thể yêu thương
    43.Máu ai cũng đỏ, nước mắt ai cũng mặn
    44. Tứ đại tan rã rồi tứ đại lại kết hợp
    45. Cánh cửa phương tiện
    02
    06. Bóng mát cây hồng táo.
    07. Giải thưởng voi trắng
    08. Chuỗi ngọc
    09. Con đường tâm linh và con đường xã hội
    10. Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài
    10
    46. Nắm lá Simsapa
    47. Cứ theo Chánh pháp mà hành trì
    48. Rơm phủ lên bùn
    49. Con hãy học hạnh của đất
    50. Một vóc cám rang
    03
    11. Tiếng sáo canh khuya
    12. Con ngựa Kanthaka
    13. Đạo tràng đầu tiên
    14. Vượt sông Hằng
    15. Khổ hạnh lắm
    11
    51. Kho tàng của cái thấy
    52. Phước điền y
    53. An trú trong hiện tại
    54. Thản nhiên trước cuộc thịnh suy
    55. Ánh mai vừa tỏ rạng
    04
    16. Thì ra lệnh bà Yasodhara giả ngủ
    17. Chiếc lá pippala
    18. Sao mai đã mọc
    19. Trái quít của chánh niệm
    20. Nai ngọc
    QUYỂN BA
    12
    56. Trùng sinh ân nặng
    57. Chiếc bè đưa người
    58. Con gái đắt giá hơn con trai
    59. Nhảy cao mấy cũng rơi vào lại trong lưới
    60. Ngày nào tóc cũng ướt
    05
    21. Hồ sen
    22. Chuyển pháp luân kinh
    23. Những giọt nước cam lộ
    24. Hãy đi như những con người tự do
    25. Đỉnh cao của nghệ thuật
    13
    61. Tiếng gầm sư tử lớn
    62. Đừng vội tin cũng đừng vội bài bác
    63. Đường về biển cả
    64. Vòng sinh tử không có bắt đầu
    65. Không có cũng không không

    06
    26. Nước cũng đi lên như lửa
    27. Vạn pháp đang bốc cháy
    28. Rừng Kè
    29. Muôn vật từ duyên mà sinh lại từ duyên mà diệt
    14

    66. Bốn núi bao quanh
    67. Nước biển chỉ có một vị mặn
    68. Ba cánh cửa nhiệm mầu
    69. Chim cút và chim ưng
    70. Bụt từ đâu tới và sẽ đi về đâu

    QUYỂN HAI
    07
    30. Venuvana
    31. Sang Xuân ta sẽ về
    32. Ngón tay chỉ mặt trăng
    33. Cái đẹp không tàn hoại
    34. Mùa xuân đoàn tụ
    35. Ra nhìn tia nắng sớm
    15
    71. Nghệ thuật lên giây đàn
    72. Chống đối im lặng
    73. Những vắt cơm dấu trong mái tóc
    74. Tiếng rú của những con voi chúa
    75. Những giọt nước mắt vui sướng của Sudatta
    08
    36. Những bông sen duyên kiếp
    37. Một niềm tin mới
    38. Ôi ! Hạnh phúc
    39. Ba lần thức dậy trời vẫn chưa sáng
    40. Bao nhiêu tấc đất bấy nhiêu tấc vàng
    16
    76. Hoa trái của ngày hôm qua
    77. Sinh tử là hoa đốm giữa hư không
    78. Hai ngàn chiếc áo vàng trên núi Thứu
    79. Nấm chiên đàn
    80. Hãy tinh tiến lên để đạt giải thoát
    81. Đường xưa mây trắng

    Bản đối chiếu Pali, Phạn, Hán Việt
    Lời tác giả

    Tác giả kể chuyện xoay quanh việc viết
    tác phẩm "Đường xưa mây trắng"

    Năm đầu khi mở cửa Làng Mai vào mùa hè, tôi thường hay cư trú trên phòng của cư xá Hồ Đào gần với cây Tilleul. Ở dưới có quán sách và ở trên là phòng tôi ở. Vào năm đầu và năm thứ hai chúng ta có ít phòng lắm nên tôi đã ngủ chung với mấy thiếu nhi. Bốn năm đứa trẻ ngủ chung với tôi và ban đêm các cháu đã nằm lăn ra khắp nơi. Bài hát "Con về nương tựa Bụt, người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời..." tôi có chủ ý làm cho thiếu nhi hát. Tôi nghĩ là thiếu nhi phải hát chứ tụng thì chưa đủ. Hôm đó tôi ngồi thiền buổi chiều trong thiền đường Yên Tử. Trước mặt tôi có một tảng đá vì các bức tường của thiền đường Yên Tử đều được xây toàn bằng đá. Đang ngồi thiền thì thấy tự nhiên những nốt nhạc của bài "Con về nương tựa Bụt" đi ra. "Con về nương tựa Bụt, Namo Buddhaya". Sau đó tôi sửa lại "Con về nương tựa Bụt, người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời" rồi mới tới "namo Buddhaya".

    Tôi tự nghĩ: "Mình đang ngồi thiền chứ đâu phải đang sáng tác nhạc. Thôi để ngồi thiền xong rồi sẽ sáng tác tiếp." Nhưng ngồi một lát nữa thì những nốt nhạc lại trở về. Tôi nghĩ: "Thôi, nếu đã như vậy thì mình sáng tác ngay lúc này." Và trong khi ngồi thiền tôi tiếp tục sáng tác bài "Con về nương tựa Bụt". Ngồi thiền xong thì tôi ra thâu bài hát vào băng nhựa vì sợ quên. Trong thời gian thiền sư Baker Roshi tới thăm Làng Mai, tôi đã khởi thảo tập sách Thiền Hành Yếu Chỉ . Rất nhiều người muốn có một tập sách hướng dẫn về thiền đi. Sau đó thì những bài thi kệ nhật dụng bằng tiếng Việt được sáng tác. Tôi còn nhớ là hồi đó tôi viết Đường Xưa Mây Trắng ở trong cái quán của Xóm Thượng. Hồi đó chưa có lò sưởi trung ương, trong phòng chỉ có một cái lò sưởi đốt củi thôi và trời rất lạnh. Tay phải tôi viết còn tay trái thì đưa ra hơ trên lò sưởi. Tôi đã viết những chương của Đường Xưa Mây Trắng với rất nhiều hạnh phúc. Thỉnh thoảng tôi đứng dậy pha trà để uống. Mỗi ngày viết mấy giờ cũng như được ngồi uống trà với đức Thế Tôn. Và tôi biết trước người đọc sẽ rất có hạnh phúc vì khi viết, mình cũng đang có rất nhiều hạnh phúc. Viết Đường Xưa Mây Trắng không phải là một lao động mệt nhọc mà là cả một niềm vui lớn. Đó là một quá trình khám phá. Có những đoạn tôi cho là khó viết, như đoạn Bụt độ ba anh em ông Ca Diếp. Tài liệu thường nói là Bụt độ ba anh em đó nhờ thần thông của Ngài nhưng khi viết thì tôi đã không để cho Bụt dùng thần thông mà cứ để Bụt sử dụng từ bi và trí tuệ của Ngài để độ ba ông ấy. Bụt có rất nhiều trí tuệ, rất nhiều từ bi, tại sao Bụt không dùng mà lại phải dùng thần thông? Và tôi có một niềm tin rất vững chãi là mình sẽ viết được chương đó. Chương này là một trong những chương khó nhất của Đường Xưa Mây Trắng nhưng cuối cùng tôi đã thành công. Cái chương khó thứ hai là chương nói về cuộc trở về của Bụt để thăm gia đình. Mình đã thành Phật rồi, mình đã thành bậc toàn giác rồi, nhưng về thăm gia đình mình vẫn còn là một đứa con của cha, của mẹ, vẫn là một người anh của em. Viết như thế nào để Bụt vẫn còn giữ lại được tính người của Ngài. Cũng nhờ niềm tin đó mà tôi thành công. Quý vị đọc lại, sẽ thấy Bụt về thăm nhà rất tự nhiên. Cách Ngài nắm tay vua cha đi từ ngoài vào, cách Ngài đối xử với em gái, cách Ngài đối xử với Yasodhara và Rahula, rất tự nhiên. Tôi có cảm tưởng là có chư tổ gia hộ nên tôi mới viết như vậy được. Trong Đường Xưa Mây Trắng chúng ta khám phá ra Bụt là một con người chứ không phải là một vị thần linh. Đó là chủ tâm của tác giả, giúp cho người ta khám phá lại Bụt như một con người và lột ra hết các vòng hào quang thần dị người ta đã choàng lên cho Bụt. Không thấy Bụt như một con người thì người ta sẽ tới với Bụt rất khó.

    c

    Links
    Phật Giáo Thế Giới

    Thơ và Nhạc Phật Giáo

    Pháp Thoại

    Cảnh Chùa Việt Nam

    Văn Học Phật Giáo

    E-mail

    Sitemap

    16 thg 5, 2008

    Vesak2008

    Thứ Bảy, 17, tháng Năm, 2008

    | Tin Trong Nước |
    Chùm ảnh : Thắp 20.000 ngọn nền cầu nguyện hòa bình
    Trọng Hoàng
    đăng ngày 16/05/2008

    Đêm cuối của Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc 2008 đã diễn ra một sự kiện hi hữu trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. 20.000 ngọn nến đã được thắp lên bởi 10.000 sinh viên, Phật tử và chư tôn đức Tăng Ni để cầu nguyện hòa bình. Không gian sân trước trung tâm hội nghị quốc gia lung linh trong ánh nến thiêng liêng, trong sự hội tụ tâm linh cầu nguyện của hơn 3 vạn người tham dự.



    Và sự cảm ứng, cộng hưởng của Đại lễ thắp nến cầu nguyện không chỉ dừng ở không gian nơi đây, mà còn lan tỏa đến hàng chục triệu người dân Việt Nam qua màn ảnh truyền hình trực tiếp trên kênh VTV1.

    57
    Trước giờ làm lễ

    56
    Các đại biểu Phật giáo từ 74 nước và vùng lãnh thổ sẽ chứng kiến và cầu nguyện

    55


    54
    9 vị sư trẻ này sẽ nhận lửa từ chư tôn đức giáo phẩm để truyền đến hội chúng

    53
    10.000 người tham gia thắp nến và khoảng 20.000 Phật tử và nhân dân địa phương đến chứng kiến và cầu nguyện

    52
    Đa số các em tham gia thắp nến và cầu nguyện hôm nay là sinh viên các trường Đại học trên địa bàn Hà Nội. Đối với các em, dù đã quy y hay chưa thì Phật giáo vẫn là một tôn giáo gần gũi đã chảy trong huyết quản được truyền lại từ ông bà, tổ tiên. Vì thế, việc tình nguyện tham dự đêm thắp nến cầu nguyện là một niềm vinh dự, vui thích, cũng là một trách nhiệm tiếp nối truyền thống Phật giáo Việt Nam

    51
    Tiến sĩ Thích Đức Thiện, ông Nguyễn Hữu Oanh và Thượng tọa Thích Bảo Nghiêm

    50


    49
    Các đại biểu cùng cầu nguyện

    48
    Trước lễ cầu nguyện, xe hoa Phật đản của các tỉnh, thành hội Phật giáo trên cả nước đã diễu vòng quanh sân nơi thắp nến

    47
    Xe hoa Phật đản là một nét văn hóa của Phật giáo Việt Nam, được các đại biểu quốc tế rất thích thú

    46
    Niềm hoan hỉ của TT. Thích Thiện Nhơn - Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN

    45
    Phật tử đứng chật không gian trung tâm hội nghị quốc gia

    44


    42


    41



    39


    36
    Hòa thượng Thích Trí Quảng đọc lời khai mạc lễ thắp nến cầu nguyện

    35
    Chư tôn túc giáo phẩm lên truyền đăng

    34


    33


    31


    29


    26


    25


    24
    Nến được thắp theo hình chữ vạn

    23
    Các em sinh viên đã sẵn sàng

    22


    21


    20
    Truyền đăng

    19


    18


    17


    16


    15


    14


    13


    12


    11


    10


    09


    08


    07


    06


    05





    03


    02


    01


    24


    23


    22


    21


    20


    19


    18


    17
    Nhất tâm cầu nguyện cho thế giới hòa bình

    16


    15


    14


    13


    12


    11


    10


    9


    08


    06


    05


    04
    Hợp ca biểu diễn bài hát "Bay lên vì hạnh phúc con người"

    03


    02


    01

    Trọng Hoàng

    Source : http://www.phattuvietnam.net/index.php?nv=News&at=article&sid=3498
    Link: http://www.giaodiemonline.com/noidung_detail.php?newsid=2356
    | Chủ Trương | Hướng dẫn kỹ thuật | Tài liệu Anh ngữ | Cài đặt Unicode |